4 thg 10, 2012

HỘI THẢO KHOA HỌC VỀ THÁI HOÀNG THÁI HẬU NHÀ MẠC VŨ THỊ NGỌC TOÀN




Ngày 22/8 năm Kỷ Sửu nhân ngày giỗ Hoàng Đế Mạc Đăng Dung, tại Cổ Trai tôi đã kiến nghị với giáo sư Mạc Đường phó chủ tịch HĐ Mạc tộc Việt Nam về Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản là vợ Hoàng Đế Mạc Đăng Dung, GS nói lần đầu tôi biết về tư liệu này, tôi đưa GS đi thăm chùa Trà Phương và Hòa Liễu, (Kiến Thụy, TP Hải Phòng) ông rất tâm đắc và mong mọi người hãy thu thập tài liệu để mở hội thảo về Thái Hoàng Thái Hậu.
Điều mong ước của tôi đã được thỏa: ngày 4/ 10/2012 Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Hải Phòng, UBND huyện Kiến Thuỵ, Hội khoa học lịch sử Hải Phòng đã tổ chức HỘI THẢO KHOA HỌC THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA THÁI HOÀNG THÁI HẬU NHÀ MẠC VŨ THỊ NGỌC TOÀN.


Ông Hoàng Văn Kể chủ tịch HĐ Mạc tộc Hải Phòng khai mạc hội nghị.

Một số tài liệu về Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản đã được tranh luận, nhưng tôi mong các nhà khoa học phải nghiên cứu khách quan để đưa ra kết luận thuyết phục về họ của người, một tiến sĩ (không tiện nêu tên) đã khẳng định như dao chém đá: là Thái Hoàng Thái Hậu là họ nọ họ kia, rồi viện dẫn từ  Từ điển mới được hội nọ hội kia xuất bản, thật tệ nhiều tiến sĩ của Ta dốt mà hay khoe...
Nay tôi tập hợp một số tư liệu liên quan đến họ của Người mong các nhà sử học xem xét:
 I/ Trên “Văn bia thời Mạc” được PGS.TS Đinh Khắc Thuân dịch, do – Nhà xuất bản Hải Phòng 2010 :

1/ “ Tạo Thiên Phúc tự” ghi:  Thái Hoàng Thái Hậu họ – trang 165
2/ “ Sùng quang tự bi” ghi: Thái Hoàng Thái Hậu họ – trang 364
3/ “ Trúc am tự bi” ghi: Thái Hoàng Thái Hậu họ– trang 431 & 432
4/ “ Hà Lâu tự bi tín thí” ghi: Thái Hoàng Thái Hậu Vũ thị – trang 455
Có lẽ đã khẳng định về họ của Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản vì văn bia cách đây gần 500 năm chắc hơn từ điển mà vị tiến sĩ ấy viện dẫn.
II/ Tại Trà Phương có nhiều di vật liên qua đến Người và nhà Mạc:
1 / Đồng dao đầu thế kỷ XV “Cổ trai Đế Vương Trà Phương Công Chúa”
2/ “ Tu tạo bà Đanh tự chi bi” ghi:  Thái Hoàng Thái Hậu  – trang 190 “Văn bia thời Mạc” PGS.TS Đinh Khắc Thuân – Nhà xuất bản Hải Phòng 2010.
3/ Những di vật trong lòng đất liên quan đến Thái Hoàng Thái Hậu họvà nhà Mạc:
+ Năm 1897 người họ Ngô Duy đào được một hòm vàng ở sân đình Cả.
+ Năm 1938 khi táng người mất tại khu đồng Bến dân đào được một mũ cánh chuồn có nhiều chi tiết bằng vàng.
+ Năm 1974 tại gốc cây đề khu đình Cả học sinh đào được 120 thỏi bạc. Gia đình ông Tống đào đựơc rất nhiều bạc nén, cổ vật, gạch vồ thời Mạc…ở gần khu đình Cả.
+ Năm 1980 tại khu vực ông Lô đang ở đào được 1 lọ đựng một khối bạc cao 25cm đường kính 12 cm.
+ Năm 2003 dân đào được 10  chĩnh, mỗi chĩnh chứa 58 kg tiền cổ. Trước đó họ Ngô Trọng sửa mộ cũng đào được 4 chĩnh, mỗi chĩnh chứa 58 kg tiền cổ.
+ Năm 2010 ông Lô khi sửa miếu đào được một chĩnh chứa đầy tiền cổ…
+ Năm 2011 ông Tuấn mò ở ao Đình thấy một pho tượng đạo sĩ và một bát hương cổ bằng đất nung hình dạng rất khác so với vật cùng công năng hiện nay.
 + Đầu thế kỷ XXI ông Lô đào thấy những đá tảng đường kính 56 cm, nhiều con giống có hoa văn giống như đào thấy ở Hoàng thành Thăng Long.
+ Còn nhiều cổ vật, kim loại chưa được dân làng công bố?
Nơi có nhiều tiền, bạc, dấu tích của kiến trúc cung đình, cùng với dòng kênh sâu khoảng 2m rộng hơn 10m, dài hơn 200m bao quanh khu này. Có phải nơi đây là dinh thự của gia đình Thái Hoàng Thái Hậu ở đã bị nhà Lê – Trịnh năm 1592 tàn phá và triệt mạch theo lịch sử ghi lại?
Thông tin trên bản đồ cho biết một số ao, vườn hoang… nhà Mạc có chôn cất của cải trước năm 1592 để rút lên Cao Bằng. Đặc biệt nói về giếng cổ ở phía Đông Bắc đình Cả, ông Tống xác nhận đã gặp khi đào đất ở đó ở độ sâu khoảng 0,5m, giếng được ghép bằng gạch vồ đường kính 1,5 m, sâu còn 2m đáy ghép bằng hai viên gạch nung 70 x 50 x 15 cm. Ông Khanh, ông Tuất (đều trên 80 tuổi) xác nhận có thấy 1 tấm bia ở long tát nước cạnh ao đình Cả …
Với những tài liệu tôi thu thập ở đất Trà Phương, tôi đề nghị chính quyền địa phương, cơ quan chức năng nhà nước cùng phối hợp với dân tìm và khai quật bia, giếng cổ và công bố thêm một số di vật để nhà nước và Hội đồng Mạc tộc Việt Nam có cơ sở đề xuất với các cơ quan nhà nước tổ chức hội thảo lần tới được tốt hơn nhằm mục đích phục dựng nơi thờ Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản và các tích liên quan đến nhà Mạc một cách bài bản và xứng tầm của nó.
Tôi mong Hội đồng Mạc tộc Việt nam hãy quan tâm đến các di sản văn hóa liên quan đến triều Mạc tại Trà Phương, Thụy Hương, Kiến Thụy, TP Hải Phòng vùng đất Tổ ngoại "Trà Hương (Phương) công chúa" của Vương triều Mạc làm cho nó xứng danh với “Cổ Trai Đế Vương”.

Một số hình ảnh về Trà Phương:
Cánh đồng Hương nhìn từ trên núi Chè còn vết hình cái lược Trong lòng lược là gương hình tròn người nay đã phá dể tiện làm đồng. Thật đáng tiếc!- Ảnh Nguyễn Công Khanh PV Báo Tiền Phong

         
         Nay tại Trà Phương có 3 họ Vũ không cúng một tổ là: Vũ Duy, Vũ Phú, Vũ Văn, chưa phát hiện 3 họ Vũ này có liên quan với họ Vũ đến Trà Phương từ thế kỷ XV đã di cư khoảng 1592. Họ Vũ Phú cư trú ở phía Tây Nam làng, nơi đã đào thấy 16 chum tiền cổ, bạc nén, chân đá tảng đường kính > 40 cm, nhiều phù điêu bằng đất nung, gạch ngói cổ… có dấu hiệu liên quan đến họ Vũ đến Trà Phương từ thế kỷ XV.



Miếu Bà Chúa gia đình ông Vũ Phú Khanh, Vũ Phú Lô xây lại năm 2010, cây gỗ Quyếch  tên lạ cả vùng chỉ có hai cây như rồng chầu vào Miếu vậy!

Đá tảng ở đồng Bến và trong khuôn viên nhà ông Lô dấu hiệu là cung điện thời Mạc liên quan đến họ Vũ.

Một số cổ vật sẽ được công bố tiếp. Xin cám ơn dân làng Trà đã ủng hộ tư liệu.

1 thg 10, 2012

VÀI SUY NGHĨ VỀ PHONG THỦY LÀNG TRÀ - LIÊN QUAN ĐẾN TRIỀU MẠC

Thân gửi: Anh Vũ Phú Khanh người làng Trà!

Đất nhà Mạc
Trên núi Trà Phương nhìn về phương Nam thấy biển, núi, sông, đồng ruộng, những khu dân c­ư trù phú thật tuyệt vời, xa xanh là dãy núi đảo Cát Bà và biển Đông dạt dào sóng vỗ, gần là dãy núi Đồ Sơn. Ta có thể tự đo tầm mắt thấy giữa núi Trà Phương và dãy núi Đồ Sơn là Tổng Cổ Trai nơi sinh Hoàng Đế Mạc Đăng Dung đã xây dựng lên một triều đại đầy tranh cãi của lịch sử, nh­ưng những vật thể và phi vật thể cho ta thấy tầm vóc huy hoàng của triều đại này. Đặc biệt việc tổ chức lễ trọng 468 năm ngày kỵ của Mạc Thái Tổ tại Cổ Trai ta như thấy hiển hiện sự hùng mạnh của hậu duệ Hoàng Đế Mạc Đăng Dung, thấy sấm trạng Trình về nhà  Mạc ứng nghiệm như một bài toán số đã định trước 400 năm.  
Làng Trà nằm trong vùng văn hóa  Dương Kinh từ câu đồng dao: "C Trai Đế Vương – Trà Hương Công Chúa"

Trà Phương Công Chúa
Giờ Thìn, ngày 5 Tết năm Bính Tuất tôi và con trai Nguyễn Công Khanh lên núi Trà, cùng với đồi Đối cách đó khoảng 1 km đ­ường chim bay về phía Đông Bắc là vệt kéo dài của rặng núi Phù Liễn xuống quần đảo Đồ Sơn (xưa). Trên cao nắng, gió mùa Xuân nhìn đất nư­ớc đâu đâu cũng tuyệt đẹp, hình nh­ư nhìn quê mình có cảm xúc riêng nên càng thấy cảnh quê tôi đẹp và nên thơ vô cùng. Trên giữa ngọn đồi thân yêu thấy: Tạo hoá thật huyền diệu, ngay núi Trà cũng thể hiện đầy đủ tính Âm D­ương, Ngũ hành, phía Tây thuộc Kim chân đồi bị ng­ười tàn phá nên dốc đứng cây mọc yếu, phía Đông thuộc Mộc, phía Bắc thuộc Thuỷ nên cây xanh tốt, phía Nam thuộc Hoả nên trơ cằn sỏi đá.
Lên cao ta mới nhìn thấy sự tuyệt vời phong cảnh của từng vùng đất, d­ưới các học thuyết phong thuỷ ta sẽ thấy ngày x­ưa làng Trà phía Đông dựa vào núi Trà. Phía Tây nhìn ra dòng sông từ làng Tiên Cầm chảy xuống Cổ Trai rồi đổ ra Đồ Sơn. Phía Bắc là sông nhỏ chảy sát núi Trà đổ về Cổ Trai. Phía Đông nối với làng Quế có thể liền với làng Cổ. 
Lấy núi Trà làm trung tâm thì phía Đông là núi Đối và sông Đa Độ, phía Tây là vết tích của nhánh sông Văn Úc, phía Nam là làng Cổ Trai, dãy núi Đồ sơn và biển Đông, phía Bắc là dãy núi Phù Liễn nh­ư đàn ngựa đang mải miết phi về ph­ương Nam. Phong thuỷ ngoại làng Trà nếu lấy trục Đông Tây mà xem thì: hậu là núi Trà là núi Đối, tiền là sông Văn úc, tả Thanh long là dãy núi Đồ Sơn dài nh­ư rồng bay ra biển cả, hữu là dãy núi Kiến An như­ Bạch hổ vậy.
Phong thuỷ nội lấy đâu làm trung tâm? Chuyện nhà Lê- Trịnh đã triệt mạch làng Trà bằng đào các con kênh, các ao ngang dọc, đập nát các đền đài, để phá huỷ sự tốt đẹp của phong thuỷ mà Trời Đất đã ban cho làng ta? Nhìn về phương Nam lấy núi Trà là Thanh Long, lấy đầm Phủ là Bạch Hổ có đúng không? phải có những nhà phong thủy thâm hậu mới định được vì núi Trà như rồng bay về phương Bắc đã đưa Mạc Đăng Dung từ người dân chài xứ Đông lên Thăng Long lập lên nghiệp Đế. Đầu triều Mạc đã tạo nên một thời đại thịnh trị hơn các triều đại trước và sau này, tạo nên Dương Kinh vùng văn hoá mới tôn trọng sự sáng tạo của người lao động, nghệ nhân… còn ghi lại các công trình nghệ thuật trên gốm, đá… đang tồn tại trong lòng đất, trong dân gian và ngoài nước?
Tất cả các công trình lớn: chùa Thiên Phúc, đình Cả, đình Tân, miếu hai Giáp và phủ Kiến Thuỵ đều nằm ven bờ sông phía Tây. Dòng sông huyền thoại chứa ruộng dải yến Công Chúa và các công trình do cổ nhân xây dựng đã bị thời gian, con ng­ười dịch chuyển và phá huỷ thành diện mạo nh­ư nay:
Trông vời biển lúa mênh mông
Giờ sao gọi mãi mà không có đò
Vì sông nay đã thành đầm
Con đò chở các miếu đình đi đâu?
Làng Trà Phương nay chia làm 5 xóm con số này có nói nên điều gì không? xóm Núi giáp núi Trà, xóm Trên ở phía Đông xóm có mặt bằng cao hơn cả là khu c­ư trú của họ Nguyễn Công, họ Vũ Duy, xóm D­ưới là nơi c­ư trú của họ Ngô Duy và họ Nguyễn Công, xóm Ngoài mặt bằng thấp hơn hai xóm trên là nơi c­ư trú của họ Ngô Trọng, Nguyễn Đình, Nguyễn Phú, Đặng, Vũ Phú, Vũ Văn… xóm Chợ hay thành Phủ sau năm 1945 phủ chuyển đi, dân các họ chuyển ra.
Có thể dân bản địa phải thiên di theo nhà Mạc sau năm 1592, dân mới đến chắc lại phải thiên di trước 1802 (khi Gia Long lên ngôi) có phải dân ở đây trong thời này liên quan đến nhà Tây Sơn? Theo gia phả các họ ở làng hiện nay thì thiên di đến làng Trà sớm nhất không quá 200 năm? Nên trong lòng dân không có nhiều huyền sử về thời đại nhà Mạc, luyến tiếc với những di sản nhà Mạc đã bị mất đi theo năm tháng chăng?
Thời chiến tranh với Pháp, Mỹ làng Trà là nơi quân đội các bên, các sắc lính Bộ binh, Phòng không, Lính thuỷ đánh bộ, th­ường xuyên đến đóng quân nên nhiều quan, lính lấy vợ ở lại tạo nhiều họ mới. Làng ta nhỏ về diện tích dân số không đông nhưng có nhiều dòng họ nhất so với các làng bên.
Căn cứ vào cổ sử đặc biệt các văn bia thời Mạc ở chùa Trà Phương và câu ca: "C Trai Đế Vương – Trà Hương Công Chúa" ở vùng Dương Kinh thì khẳng định Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản hoàng hậu của Hoàng đế Mạc Đăng Dung là người sinh tại Trà Phương, đẹp người đẹp nết và ngưỡng mộ đạo phật đã hưng công xây và sửa hàng chục ngôi chùa ở vùng nhà Mạc nắm quyền (1527- 1592). Quá trình cống hiến của Hoàng Thái Hậu với nhà Mạc đặc biệt là thời từ Mạc Đăng Dung – Mạc Phúc Hải cần được nghiên cứu thấu đáo.


Theo lịch sử họ Vũ đến Trà Phương trước thế kỷ XV, Thái Hoàng Thái Hậu đầu triều Mạc là người họ Vũ - Trà Phương sinh Hoàng đế Mạc Đăng Doanh vị vua anh minh đã chấn hưng và đem lại thái bình cho đất nước. Thái Hoàng Thái Hậu được người đương thời tôn là vị Bồ tát đã chấn hưng đạo Phật đầu thế kỷ XVI, Ngưòi đã cúng hơn 30 mẫu ruộng, vàng 6000 lá cùng nhiều tiền, gỗ… xây sửa nhiều chùa ở Bắc bộ, xây Bà Đanh tự nay là chùa Thiên Phúc, cúng chùa 1,9 mẫu ruộng, ban cho làng Trà 101 mẫu 2 sào, 10 thước 3 tấc 8 phân và tạo nên làng Trà vang bóng một thời.

Phía Đông, 
có núi Trà Ph­ương thuộc địa phận thôn Trà Phương, Thụy Hương, Kiến Thụy, TP Hải Phòng. Tọa độ 20 0, 44’, 20”B, 106 0, 39’, 30” Đ, cao 52 m, sách “Đại Nam nhất thống chí” cho biết núi này cách huyện Nghi Dương, phủ Kiến Thụy, tỉnh Hải Dương 7 dặm về phía Tây. Sách “Hải Dương toàn hạt dư địa chí” cho biết núi Trà Sơn, tại xã Trà Sơn, tổng Trà Hương, huyện Nghi Dương, phủ Kiến Thụy, tỉnh Hải Dương, cao 30 trượng, rộng khoảng 100 mẫu. Chân núi có đền Linh Quy (Rùa Thiêng), trong sân đền có một khối đá thiêng hình Rùa nổi lên, bên cạnh có giếng nước rất ngon. Trong vùng đầm ao, sản nhiều rùa, dân không dám bắt, không cho mang ra khỏi làng, dân quanh vùng cũng thờ thần Linh Quy. Nay có nhiều di tích tâm linh đã đ­ược dựng lại như: chùa Vĩnh Khánh, Chùa Linh Sơn nh­ưng còn miếu thần Đại Vương Linh Quy ở phía Tây Bắc làng Trà là   ch­ưa được phục hồi. Theo tôi biết miếu thờ thần Đại Vương Linh Quy nằm ở phía Tây Bắc, gần ao Hang cửa miếu h­ướng Tây Bắc, tuy diện tích và kiến trúc không lớn nh­ưng rất linh thiêng, được dựng khi con người đến cư trú ở vùng này. Xưa cây các loại mọc um tùm tươi tốt, chim chóc bốn mùa ca hát, dưới nước vô cùng nhiều Rùa sống ở ao Hang và toàn lãnh thổ Trà Phương, làm chốn này như bồng lai tiên cảnh, sau miếu đổ, người phá thì Rùa cũng dần biến mất. Có nhiều câu chuyện về sự báo ứng với những người do vô tình hay cố ý xâm phạm vào Miếu đến nay vẫn còn được lưu truyền. Vào những năm 90 thế kỷ tr­ước Quân đội muốn làm đ­ường qua miếu nh­ưng khi san gần đến cửa Miếu thì máy xúc bị hỏng, chữa rồi lại hỏng, đưa máy xúc mới đến cũng hỏng, nên họ phải thắp hương xin thần Linh Quy mới kéo máy xúc ra ngoài và tư bỏ việc san nền Miếu. Nay dù miếu đổ nh­ưng cây vẫn mọc xanh tốt hơn những khu liền kề che mát khối đá thiêng hình ông Rùa, chim chóc vẫn bốn mùa ca hát cho Đại Vương Linh Quy suy ngẫm sự đời.
Núi Trà còn nhiều di tích đã đi vào huyền thoại như hang Chúa Thao, Chúa Phấn, xưa có người muốn hậu duệ phát đạt đem hài cốt bố mình táng vào hang, rồi cả nhà bị ốm, ghẻ lở, khi trả lại sự thanh sạch của hang Chúa thì tự nhiên khỏi bệnh. Bốn cây quéo ở hai đầu núi phía Nam, phía Bắc cao hàng chục mét, gốc to đến 5 người ôm bốn mùa xanh tốt vào cuối thế kỷ XX tự nhiên chết gắn với với huyền thoại về người Tầu giấu vàng từ xưa và lấy đi.
Xưa trên núi Trà nhìn về phía Tây, trên cánh đồng Hương thấy hai thửa ruộng tạo hình cái gương, cái lược:


diện tích mỗi cái khoảng 2 sào. Cổ nhân truyền rằng cái gương, cái l­ược là biểu tượng của Thái Hoàng Thái Hậu. Khoảng những năm đầu thế kỷ XXI người canh tác trẻ mới xoá mất hai biểu tượng này.  Trước CCRĐ ông Ngô Duy Khôn trưởng tộc Ngô Duy cấy lúa, trồng khoai trên ruộng này sản vật đều ngon hơn những thửa ruộng bên, đặc biệt khoai lang gọi là khoai chột lột, vỏ màu trắng to như nắm dao, luộc, ăn bở thơm ngon như bánh khảo. 

Phía Bắc
Nghĩa trang mả Vối nhìn từ trên cao đẹp như con ngựa nằm nghiêng đầu quay về núi, chân hướng về Văn Hòa, lưng hướng về xóm Trong, những năm 60 thế kỷ XX hài cốt táng ở mả Đò được dồn về đây để khu ấy làm trận địa tên lửa. Mả Vối nay lăng mộ đang được xây dựng như thành phố dành cho người đã khuất. Cách mả Vối hơn 300m về phía Nam là đình Phúc cửa quay hướng Tây, hậu cung dựa vào lưng ngựa ( mả Vối), khuôn viên 60 x 60 m kiến trúc đang được sưu tầm vì đình bị phá vào những năm 50 thế kỷ XX.

Phía Tây Bắc, 
là chùa Thiên Phúc, diện tích khoảng 6 mẫu, sử Việt có ghi tại Trà H­ương có chùa của ng­ười Chăm bị nhà Lý bắt làm tù binh buộc ở vùng này dựng nên, sau người Chăm bỏ về Nam nơi thờ bỏ hoang người Việt gọi là chùa Bà Đanh nay còn dấu tích tại khu mả Đò, lối sang làng Du Lễ bây giờ, đ­ến nhà Mạc chuyển xây dựng tại địa điểm hiện nay đổi tên là Thiên Phúc tự. Chùa có nhiều hiện vật, văn hoá thời Mạc, thời Nguyễn, hệ thống t­uợng Phật đ­ược tạc khắc rất tinh xảo, đặc biệt có hai pho t­ượng đá xanh tạc Hoàng đế Mạc Đăng Dung và Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản, nay thờ ở bên phải, bên trái thờ Tam toà Thánh Mẫu. Phía Đông là nơi thờ tổ trong đó có thờ một vị quan nhà Mạc Chúc Hiên tiên sinh và một người Pháp có tên Việt là Nguyễn Di Đăng người có công xây, sửa chùa, như vậy nhà thờ tổ đã ghi lại việc xây, sửa chùa có sự tham gia của thân Vương nhà Mạc và người Pháp. Cửa chùa là bến cho thuyền các nơi về buôn bán, tháng Dậu hàng năm là nơi hát đúm, hội chùa Trà, nay bị bồi thành đầm cấy lúa hai mùa. Vùng này khi ch­ưa có đê biển thuỷ triều còn tác động nên những loài cá n­ước lợ nh­ư V­ược, Măng… sống rất nhiều trong đầm hồ, là nguồn thực phẩm của dân làng.
Bà Ngô Thị Dĩnh (? – 1963, hậu duệ đời thứ tư của cụ Ngô Duy Nhất) lấy chồng ng­ười Pháp tên Việt là Nguyễn Di Đăng làm Giám đốc Đài thiên văn Phù Liễn, Kiến An bỏ hàng vạn quan tiền để xây lại chùa. Nội tôi kể: khi xây lại chùa Bà Dĩnh đã lập hai ph­ường thợ nề một bên, ph­ường thợ mộc một bên để thi đua xây dựng cho đẹp và nhanh chóng, khánh thành chùa mở hội hát đúm dài đến mươi ngày. Cuộc cải cách ruộng đất đã làm bà Dĩnh khánh kiệt, bà phải sống nhờ ng­ười cháu như­ng vẫn giữ đ­ược cốt cách cao sang của  ng­ười có thế lực và văn hoá ở đẳng cấp cao. Chiều mùa hè bà      th­ường tắm ở ao nhà tôi (của cụ chánh Hậu để lại chiều dài khoảng 50 x 20 m, rất sâu nên nư­ớc trong, mát, ven bờ trồng rau muống, có cầu ao  bằng đá xanh ở giữa bờ chính h­ướng Nam. Khi tôi khoảng 5- 6 tuổi phải ngồi trên bờ đợi bà tắm xong mới dám xuống bơi lội, giờ đã cao niên nhớ lại bà Dĩnh tuyệt đẹp, cao khoảng 1m 55, khuôn mặt hơi tròn, mắt sáng thần thái rất ung dung, da trắng hồng hào, đặc biệt hai bầu vú của bà tròn trịa, nhũ hoa vẫn t­ươi hồng dù bà đã hơn 70 tuổi rồi, thật là tuyệt tác của tạo hoá (đúng lời truyền: Trà Phương Công Chúa). Năm 1936 - 1938 Bà dùng tiền của riêng sửa chùa Thiên Phúc, dựng chợ Phủ, năm 1945 dân làng đói bà đem tiền về phát chẩn. Ôi !buồn thay đào hoa bạc mệnh, về già bà sống cô quả, lúc chết các cháu không quan tâm đến nay không rõ mả ở đâu? Đây có phải là phép thử lòng người trước bạc tiền và nhân nghĩa chăng?

Phía Tây, 
trước kia là sông, tuyến vận chuyển muối lên Thăng Long, nơi xẩy ra nhiều trận thuỷ chiến giữa người Nam và phong kiến phương Bắc, giữa nghĩa quân Nguyễn Hữư Cầu, Phan Bá Vành và nhà nước phong kiến nước Nam, bên kia bờ đầm có đền thờ hai danh tướng thời cổ Vũ Hải và Trương Nữu. Bên bờ phía Nam là Mả Đò, bờ phía Bắc là phủ Kiến Thụy, ven bờ phía Đông có ngôi mộ cao khoảng 2m, đ­ường kính khoảng 6 m của tiền nhân Ngô Duy Nhất là hậu duệ đời thứ 2 của họ Ngô Duy, đ­ược tiền nhân chánh tổng Nguyễn Công Hậu gả con gái là Nguyễn Thị Tô, cho ăn học và tranh tài đ­ược chức chánh tổng Trà H­ương, là tổ ngành thứ II của họ Ngô Duy, là người có thế lực đã tranh tụng với triều Nguyễn đòi được ruộng dải yếm diện tích hơn 101 mẫu mà bà Công Chúa ban cho làng (năm 1592 nhà Lê thu ruộng Dải Yếm), cuối thế kỷ XIX có hậu duệ là chánh Linh nổi tiếng giàu có và thế lực trong vùng, nay còn ngôi nhà thờ lớn có bức Đại tự to, đẹp nhất làng.
Phía Tây Nam là ngôi đình Cả, nền đình cao hơn mặt bằng xung quanh khoảng 1,5 m, rộng khoảng 6 mẫu, đ­ược dựng vào thời Lý ­sửa lại thời Mạc, thờ ba thành hoàng là: Thiên thần Vọng Hào (nên làng tôi kiêng húy gọi tiền hào là hầu và các chữ có liên quan đến từ hào đều được đọc trại đi), Hoàng Đế Mạc Đăng Dung, Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản, đây là công trình văn hoá thời Mạc. Đình Tân ở gần đình Cả, bên bờ đầm có cây Đề gốc to đến mấy người ôm, ngọn cao vài chục mét, nơi bốn mùa chim từ khắp phương trời về đây sinh sống và ca hát cho dân làng hóng mát dưới bóng cây, lấy nhựa dính chuồn chuồn để bẫy chim bẻo…, vỏ nhuộn áo quần. Dưới gốc cây Đề cũng là bến đò vượt sông cổ sang trang Du Lễ một làng có nhiều người đỗ đạt về văn, có hai đền thờ quan võ là Trương Nữu và Vũ Hải đã lập nhiều chiến công trong sự nghiệp chống lại sự xâm lược của phương Bắc, tất cả đều bị phá khoảng những năm 60 của thế kỷ XX, giờ chỉ còn một cây nhãn, tương truyền những cây nhãn trồng ở Đình, Chùa nguồn từ một chùa ở Hưng Yên mang ơn của Thái Hoàng Thái Hậu tặng làng Trà.

Phía Tây Bắc, đầu thế kỷ XX ng­ười Pháp xây phủ Kiến Thuỵ hình vuông 300 X 300 m, cửa phủ mở hư­ớng Nam, theo kiểu thị trấn có b­ưu điện, chợ… Phiá Nam có đ­ường đi ven đầm nối ra chùa Mục đồng sang làng Phương Đôi để đi đò Vọ, đi ng­ược lại là đ­ường qua cửa Chùa, qua giữa làng Trà sang Thanh Sơn đi lên Kiến An, đ­ược giải đá cấp phối dân gọi là đường Tây. Xung quanh phủ có thành cao khoảng 5m, bề mặt rộng khoảng 10m, phía ngoài trồng tre gai, tiếp đến là hào sâu, phía đông còn có hào ngoại nay là đ­ường sang Phương Đôi. Chợ Phủ giáp chùa là nơi xưa buôn bán sầm uất hàng huyện.

Làng Trà Phương cổ tên là Trà Hương năm 1813 nhà Nguyễn cho là phạm húy đổi thành Trà Phương. Trà Hương dịch theo tiếng Hán là: hương trà thơm, xưa hay lấy địa danh theo một vật thể ở vùng đó, có thể núi Chè ngày xưa có loại chè ngon mọc tự nhiên chăng nên gọi là Trà Hương? Trên không ảnh ta nhấy phong thủy làng thật tuyệt vời, nếu theo trục Đông - Tây, từ xa dãy núi Đồ sơn là Thanh Long, dãy núi Phù liễn là Bạch Hổ, hậu là núi Trà, tiền là đầm Phủ 

Nhưng theo thuyết của Dương Quân Tùng thì lại rất xấu với những công trình cửa quay hướng Tây, nếu xây vào ngày sát chủ- không vong, lịch sử cho ta thấy: Đình bị phá, Chùa sát chủ và cô quả, nhà thờ tiền nhân Ngô Duy Nhất nghành trưởng không còn người nối dõi, phủ Kiến Thụy đối với Mả Đò (âm sát dương) dù đẹp và hiện đại vậy mà tồn tại không được một Hoa Giáp. Mả Đò nơi an nghỉ biết bao thế hệ dân làng thế mà phải di chuyển, bao hài cốt còn nằm đó bị xe pháo quần nát, người ham khai phá cấy trồng tưới phân lên di cốt biết nói làm sao cho vừa? Quê tôi một thời oanh liệt mà nay như thế này sao? Câu hỏi khiến ai ngộp thở khi nghĩ về lịch sử, nghĩ về tiền nhân.
Đến thời hiện đại: tên lửa bắn từ Mả Đò quần nát tâm linh, đến nay ai trồng cấy trên đất này cũng gặp điều không lành, Núi Trà là bia để tập bắn, Mả Vối nhìn từ trên cao như con ngựa nằm nghiêng đẹp làm vậy ai đã xẻ ngựa ra nhiều mảnh thương thay? Dân cư ở vùng đất cao hơn, vùng đất canh tác sao nhiều ao sâu và to đến vậy? Miếu Đại Vương Linh Quy, Đình Cả... bị thời gian và người phá, mấy người muốn phục dựng? Ao đình có thể chứa nhiều bí ẩn thời nhà Mạc bị hút đi nhiều di vật mà ai biết?...
Những năm 60 thế kỷ trước, hưởng ứng phong trào “Tết trồng cây” do cụ Hồ phát động các phụ lão đã trồng hàng dừa ven đường Tây bốn mùa vi vu gió hát, quả thơm mát chia cho từng hộ hưởng để vơi dần cái nóng mùa hè và vô hình đã hóa giải một phần sát khí, phù cho dân ta đã tạo nên những kỳ tích của HTX Bình Minh với sáng kiến: cào cỏ kiểu mới, làm thay đổi lối canh tác cổ hủ, tạo nên năng xuất cao hơn xưa... được hai phó Thủ tướng về thăm, dân quân bắn rơi máy bay AD6 của Hoa Kỳ... ai lại tàn phá hàng dừa, khiến sát khí trở lại? Chùa làng Thiên Phúc, tên và cảnh vật đẹp làm sao, mà dân làng mấy ai chăm lo, bảo vệ? nếu không có Hòa thượng Thích Quảng Mẫn thì chùa ra sao? Việc làng ai lo? thành tích thì ai cũng nhận.
Sự tàn phá phong thủy có hay, có dở không? Ta có thể ngược dòng lịch sử thấy cách đây khoảng 200 năm làng ta dân số có thể không quá 600 người? theo gia phả các họ ta thấy các đời suất đinh mỗi họ không quá 20 mà dựng lên ba đình: Cả, Tân, Phúc. Từ lâu người làng ta không có người thành đạt về văn, võ đến hoạt động kinh doanh...? Từ xưa đến nay danh tiếng người làng Trà vượt qua lũy tre làng lại là nữ nhân: Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản, bà Ngô Thị Dĩnh (? - 1963) là còn để lại những công trình kiến trúc để đời, còn ai xin được ghi danh?
Việc người và thời gian phá hủy các công trình mang tính tâm linh chúng ta đã chứng kiến: Miếu thờ Đại Vương Linh Quy bị Tây bắn sập một số người dỡ lấy vật liệu và dân truyền miệng: nơi đó có nhiều người bị bệnh không bình thường và chết bí hiểm, đặc biệt vụ nổ đạn cối làm chết năm thiếu niên, nhiều khu đất ở lạnh lẽo, người sống ở đó cô quả, nghèo, có phải tâm linh, phong thủy ảnh hưởng đến đời sống của con người?
Xưa truyền lại cửa hang Chúa (ở đầu núi phía Nam cửa hướng về mả Đò) nhìn xuống làng: khó nuôi được lợn… vậy nghe đâu có một số người muốn dựng đình vào phương này, vùng có nhiều sát khí lại thấp trũng, có nhiều nhà vệ sinh chĩa vào, vậy đình quay hướng nào? phía Đông hướng vào hang Chúa Thao, tiếp đến lăng liệt sĩ, bốt điện và ao vừa lấp, phía Tây là nghĩa địa đồng thời là trận địa tên lửa, liệu có nguy không?
Đình xưa có vị trí địa linh đã tồn tại hơn nghìn năm, Đình ngày nay làng phục dựng theo kiến trúc xưa, nhưng công năng của đình chúng ta cần nhận thức mới: hậu cung là nơi thờ Thành Hoàng, tiền đình có thể sử dụng cho văn phòng của trường học, cho việc công của làng, xã. Đâu cần phải di chuyển trường vì trường học mới là việc công lớn cho trăm năm là trồng người, có đình sẽ nâng cao linh khí, dân trí. Được vậy sẽ phát huy hiệu quả cao nhất công năng của đình, tiết kiệm được quỹ đất đang ngày càng bị thu hẹp liệu có hay không?
Cho nên chọn nơi dựng đình và hướng đình là tối quan trọng không thể làm bừa theo ý một số người, mà phải có chấp thuận của nhà nước, có sự tham gia của HĐ Mạc tộc Việt Nam, có cơ sở khoa học, thì mới tụ được linh khí, thu phục được nhân tâm, nếu không mọi việc đều ngược lại?
Vài thiển nghĩ thô mộc xin bầy tỏ với các bậc cao niên và dân làng để cùng nhau suy nghĩ và có nhiều sáng kiến hay để làm cho làng Trà ngày càng tốt đẹp, hậu duệ ngày càng phát triển, sánh cùng thiên hạ, thì tiền nhân mới thỏa lòng, chứ cứ theo cách nghĩ, cách làm cũ e rằng chúng ta có lỗi với tiền nhân và hậu duệ?
Một chút bàn về phong thủy và viết nên những sự thật đã xảy ra trên quê tôi để chúng ta nghiên cứu, tránh những điều không lành, vì: có thờ có thiêng có kiêng có lành, mà một số người buộc cho mình dị đoan? 

Chuyện đời sợ sự thật, thích trí trá tất lòng đã không thành rồi? thì sao làm được việc lớn.
Buồn thay kẻ xấu lại hay nói chuyện tâm đức, nhân, lễ, trí, tín…khoe khoang cái ít của mình như là lớn lắm. Ngẫm sự đời Tôi càng thấy VŨ TRỤ huyền diệu và công bằng, thật là:
Trời cao xanh Soi xuống
Đất tưởng to mà quá mỏng manh
Đời người mấy giây so cùng VŨ TRỤ
Làm càn liệu có nguy không?
Khi cao niên người ta hay nghĩ về xưa, học người xưa, muốn cho người nay đỡ đóng học phí, liệu ai nghe đây? Nhưng thật là :
Quê tôi như dải lụa điều
Phất phơ trước gió tôi yêu suốt đời
Có bà Công Chúa một thời
Đem lại no ấm cho người dân quê
Mỗi khi đến độ xuân về
Muốn làm ngọn gió gửi về quê tôi
Để cho sức sống một thời
Bừng lên trong mỗi con người quê ta.

Trên núi Trà ta đang đứng trên lưng rồng nhìn về phía Nam thấy quê vua Mạc Đăng Dung như ngự trên gần đuôi rồng ẩn dưới lòng đất, nên nhà Mạc hưng thịnh khi rồng nghỉ, loạn khi rồng vặn mình vẫy đuôi. Trà Phương có Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toản ở bên tả, xã Cung Hiệp ( Minh Tân nay) có Vũ Hộ bên hữu phụ giúp văn võ, nên hai người khi sống là những trụ cột của nhà Mạc thời hưng thịnh.
Phong thủy làng Trà đã bị Trịnh Tùng phá nát cùng Cổ Trai, Cung Hiệp, nên lâu rồi Trà Phương người đẹp ít xuất hiện, người tài đất Minh Tân ít thấy.
Hơn bốn trăm năm đi qua, thấy sấm trạng Trình về nhà Mạc ứng nghiệm như một bài toán số đã định trước. 
Trà Phương mùa Xuân năm Canh Dần.Nguyễn Công Kha

28 thg 9, 2012

NÚI VỌ DANH THẮNG XỨ ĐÔNG LIÊN QUAN ĐẾN HỌ NGUYỄN CÔNG


 Núi Vọ thuộc thôn Đồng Tử, Tổng Phù Lưu, nay thuộc phường Tràng Minh, quận Kiến An, TP Hải Phòng, năm 1962 núi Vọ được công nhận là thắng của xứ Đông, giữa vùng đồng bằng nổi lên ngọn núi đá vôi rất đẹp & nên thơ dù người đã phá đi nhiều phần, cạnh núi là dòng Cửu Biều (Đa Độ) như con rồng uốn lượn đem lại nguồn nước sạch cho TP Hải Phòng, là nguồn linh khí cho nhà Mạc xưa & nay, là nguồn cho ngành du lịch tương lai :










Khoảng giờ Tý, ngày 11/8 năm Nhâm Thìn (2012), sét đánh sập một tảng đá  6m x 3m x 2m ỏ phía Tây Bắc núi Vọ.









Cùng đêm sét đánh sạt tầng 2 của lăng mộ tổ họ Nguyễn Công tại Đồng Tử (ngành thứ III  họ Nguyễn Công Trà Phương, Thụy Hương, Kiến Thụy, TP Hải Phòng. Năm 2003 một số cốt tại chân núi Vọ được di vào khu nghĩa trang thôn Đồng Tử).

Tháp báo ân họ Nguyễn Công tại Trà Phương.





Lăng ngành II họ Nguyễn Công ở Trà Phương, Kiến Thụy, TP Hải Phòng xây 1992, sửa 2008.



Sơn lại năm 2012.




Lăng ông lăng cháu sát nhau, hậu duệ bàn nhiều nhưng chưa đạt được ngày quyết định sửa, nay bằng sự kiện sét đánh sạt tầng hai của tháp mộ ông đó là: Trời và tổ tiên họ Nguyễn Công quyết định việc sửa lăng này và lăng tại núi Vọ




Năm 1840 Nguyễn Công Phác đời thứ IV ngành III họ Nguyễn Công ở Trà Phương đã đến cư trú và đưa hài cốt của bề trên họ Nguyễn Công đến phía Tây Nam núi Vọ. 


Ông nội tôi (1997 - 1982) kể thượng tổ Nguyễn Công Tiến làm quan triều Quang Trung sợ trả thù của triều Nguyễn đã chia gia đình Tổ ông cùng ba con trai đến Trà Phương, Thụy Hương, Kiến Thụy, TP Hải Phòng khoảng năm 1802, Tổ bà cùng con trai cả và ba con gái đi một phương do loạn nên không liên hệ được, để dấu tông tích Tổ đã không cho biết quê ở đâu và danh tính Tổ bà, nên nay không có danh & ngày kỵ của Tổ bà.
Đến Trà Phương, ngụ Tổ dấu mình không tham gia hoạt động xã hội, theo TỔNG TRÀ PHƯƠNG KHOÁN ƯỚC lưu tại Viện Hán Nôm ghi rõ: con thứ 2 Tổ là Nguyễn Công Trình (đời thứ 2) làm Trùm tổng được phong Hậu thần Trà Phương, con trùm tổng Nguyễn Công Trình là Nguyễn Công Hậu (đời thứ 3) cũng làm Trùm tổng được phong Hậu thần Trà Phương. Đến đời thứ 4 họ Nguyễn Công có dấu hiệu bị lộ, Nguyễn Công Hậu nhìn xa dấu đi một người  có đủ bản lĩnh đã đưa cháu họ Nguyễn Công Phác đến trú tại chân núi Vọ -Đồng Tử.
Người làm nghề đánh cá trên sông Đa Độ lấy núi Vọ làm nơi sống, một đêm có người gọi đò sang Úc Gián không được, Ngài đã tự nguyện chở Khách qua sông, đến bờ người Khách trả tiền Người không nhận nói chỉ giúp thôi, nhiều lần Người đã tự nguyện chở người nhỡ đò như vậy. Rồi năm tới có người gọi đò không được, trong đêm Người đưa thuyền đón không ngờ lại là người Khách năm xưa, họ lại trả tiền nhưng Người không nhận, thấy vậy người Khách nói: tôi có biết chút địa lý nếu phúc ngài có thì sớm mai ngài mang 7 bát để vào nơi ngài thích, khoảng giờ Tỵ ngài xem nếu bát nơi nào có hơi nước bám trong lòng bát đấy là linh huyệt, hài cốt táng vào nơi ấy tất phát quan, phát thợ. Hai người tạ ơn nhau, sớm hôm ấy Người mang 7 chiếc bát để các nơi, đến giờ Tỵ Người thấy một bát có nhiều hơi nước bám quanh, Người nhìn về hướng Đông thấy tảng đá hình bàn tay bóng chiếu đúng đầu mình Người mừng lắm rồi đánh dấu nơi ấy:
 


Ngay đêm ấy Nguyễn Công Phác bí mật về Trà Phương xin anh Nguyễn Công Nhiên để đưa hài cốt bố mẹ Nguyễn Công Tự & Bùi Thị Biệt đến chân núi Vọ nhưng không được chấp thuận. Nhưng ngài đã quyết, nên trong đêm ấy lấy các phần mộ họ Nguyễn Công mang táng ở chân núi Vọ.
Cụ Nguyễn Công Vãn đời thứ VI nói: họ Nguyễn Công bị mất mộ Tổ từ lâu. Theo gia phả họ Nguyễn Công thì cụ Vãn gọi Người là ông chú vậy việc họ Nguyễn Công mất mộ Tổ là thật.
Năm 2003 có phong trào quy tập mộ về chung, ngành III đã khai quật khu này lấy được 4 tiểu là của Nguyễn Công Sự; Nguyễn Thị Kha ( đời thứ 2) sinh Nguyễn Công Tự (đời thứ 3) con dâu Bùi Thị Biệt về nghĩa trang Đồng Tử. 

Sau khi tạ mộ cháu dâu đời thứ  vong nhập phán dữ dằn: tao vẫn ở chỗ cũ, cả họ sợ đến tìm lại thấy  còn một ngôi nữa, không dám chuyển vào nơi mới. Theo gia phả, lời của cụ Vãn  suy đoán có thể đây là hài cốt của thượng tổ Nguyễn Công Tiến, vì có thể Nguyễn Công Phác đã lấy cả hài cốt cuả ông, bà, bố mẹ, tiện thuyền và xác định nơi núi Vọ là linh nên Người đã mang cả hài cốt của thượng tổ Nguyễn Công Tiến để vào nơi linh địa, nên cụ Vãn xác định mộ Tổ bị mất không rõ nguyên nhân?

Sau khi táng tổ tiên vào linh huyệt hậu duệ của Nguyễn Công Sự phát rất lớn ở Đồng Tử chi thứ nhất có nhiều đời, nhiều người chi 1 làm quan hàng Tổng, nay có nhiều cấp tá trong quân đội, ngành 2 nhiều người phát làm nghệ nhân.
Ngành I & II ở Trà Phương, Thụy Hương, Kiến Thụy, TP Hải Phòng nhiều đời suy so với ngành III – Đồng Tử. 



10 giờ cùng ngày hậu duệ đến khu lăng họ Nguyễn Công tại khu núi Vọ, lòng thành cụ Nguyễn Công Hường thắp hương linh ứng của tổ đã khiến cụ ngất ôm lấy mộ tổ, mặt xám lại, tôi yêu cầu mọi người bình tĩnh cụ sẽ dần tỉnh, hơn 2 phút sau cụ từ từ tỉnh và ngồi xuống dưới thềm lăng họ Nguyễn Công được tạm xây năm 2003 khấn rằng: Linh ứng của Tổ họ Nguyễn Công, hậu duệ quyết tâm tu tạo ngôi mộ Tổ có kiến trúc giàu chất nghệ thuật - văn hóa để tôn vinh tổ tiên họ Nguyễn Công.




Hậu duệ họ Nguyễn Công bên mộ Tổ


Sáng ngày 13/8 năm N. Thìn, HĐGT họ Nguyễn Công đã triệu tập cuộc họp bất thường tại Đồng Tử, cụ Nguyễn Công Hường chủ tịch HĐGT Nguyễn Công cùng các hậu duệ cùng khẳng định: Chúng ta bàn nhiều nhưng chưa đạt được quyết định, nay bằng sự kiện sét đánh sạt tầng hai của tháp mộ tổ ngành III đó là Trời và tổ tiên họ Nguyễn Công quyết định việc sửa lăng này và lăng tại núi Vọ.

 HĐGT Nguyễn Công đã quyết định: trong tháng 9/ N. Thìn sẽ khởi công:
-  Tu tạo khu mộ Nguyễn Công tại khu núi Vọ.
-  Xây lại Lăng ngành III họ Nguyễn Công. 
Chỉ định:
1/ Ông Nguyễn Công Kha làm trưởng Ban Tu tạo khu mộ Nguyễn Công tại khu núi Vọ.
2/ Ông Nguyễn Công Mua trưởng ngành III làm trưởng Ban Xây lại lăng ngành III tại khu nghĩa trang Đồng Tử và làm phó Ban Tu tạo khu mộ Nguyễn Công tại khu núi Vọ.
Hai ông chỉ định các thành viên để thực hiện hai việc trên.
3/ Ông Nguyễn Công Hiền Chủ tịch HĐGT ngành III, đồng phó trưởng thường trực ban hai Ban trên.
Với tình thân tộc mọi người cùng thống nhất cao những quyết định trên và cùng bàn phương thi công có hiệu quả nhất để tỏ lòng hiếu nghĩa của của hậu duệ với tổ tiên họ Nguyễn Công.

24 thg 9, 2012

HÀ NỘI SẼ LÀ THÀNH PHỐ TINH HOA CỦA HÀNH TINH




Hà Nội thủ đô, thành phố đứng đầuViệt Nam về diện tích tự nhiên & dân số. Nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam.
Năm 1010, Lý Công Uẩn quyết định xây dựng kinh đô mới đổi tên là Thăng Long. Trong suốt thời kỳ của các triều đại , Trần, , Mạc, Thăng Long là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của NƯỚC VIỆT. Tây Sơn rồi Nguyễn lên nắm quyền cai trị, kinh đô chuyển về Huế, Thăng Long đổi tên thành Hà Nội từ năm 1831. Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên bang Đông Dương và được người Pháp xây dựng, quy hoạch lại. Trải qua hai cuộc chiến tranh, Hà Nội là thủ đô của miền Bắc rồi nước Việt Nam thống nhất và giữ vai trò này cho tới ngày nay.
Hà Nội còn mang các tên …Tống Bình, Long Biên, Đại La, Đông Đô, Đông Quan, Đông Kinh. Lịch hơn nghìn năm đau thương & oanh liệt.

Vài ảnh Hà Nội xưa và nay



















Nên xem Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam hát về Hà Nội, những gương mặt trẻ cũng như già đều ánh nên niềm tự hào về Hà Nội, có thể trong số đó một số người không sinh ra ở Hà Nội nhưng:
bởi Hà Nội là niềm tin và hy vọng,
bởi vì: “Từ rất lâu, Thăng Long đã trở thành điểm đến của những người dân tứ xứ. Vào thế kỷ 15, dân các trấn về Thăng Long quá đông khiến vua Lê Thánh Tông có ý định buộc tất cả phải về nguyên quán. Nhưng khi nhận thấy họ chính là lực lượng lao động và nguồn thuế quan trọng, triều đình đã cho phép họ ở lại. Tìm đến kinh đô Thăng Long còn có cả những cư dân ngoại quốc, phần lớn là người Hoa. 



Ngày 29 tháng 5 năm 2008, với gần 93% đại biểu tán thành, Quốc hội Việt Nam đã thông qua nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính thủ đô Hà Nội gồm toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình được nhập về Hà Nội. Từ diện tích gần 1.000 km² và dân số khoảng 3,4 triệu người, Hà Nội sau khi mở rộng có diện tích 3.324,92 km² và dân số 6.232.940 người, là một trong 17 thủ đô lớn nhất thế giới.
Bao nhiêu vấn đề sau một đêm Hà Nội ôm gọn và hơn cả xứ Đoài.
Từ xưa Hà Nội là nơi sống của tinh hoa đất Việt.
Tôi có hai con trai lên Hà Nội học xong, chúng ở Hà Nội làm việc, mấy bạn tôi ở xứ Thanh – Nghệ có con học ở Hà Nội, xong, chúng cũng ở Hà Nội lại còn kéo theo bầu đàn ra Hà Nội.
Các cán bộ tinh hoa của Đảng và Nhà nước ở 61 tỉnh phát, cũng về Hà Nội.
Cháu tôi ở quê nhà mái tranh núp dưới lũy tre nên ra Hà Nội thấy Hà Nội hoành tráng, lên nói với tôi: cháu thấy Hà Nội linh thiêng thế nào ấy bác ạ!
Suy ra nay Hà Nội là là nơi ở, làm việc của tinh hoa đất Việt, nhất là tinh hoa của Đảng và Nhà nước, họ có thực là tinh hoa để vì Hà Nội tốt đẹp hơn, vì nước Việt tốt đẹp hơn, hay họ đến Hà Nội để tham của, nhũng dân, họ sẽ bị dân phỉ nhổ, bởi vì họ đã làm cho Hà Nội xấu thêm về nhiều mặt.
Hà Nội niềm tin và hy vọng sẽ diệt bọn tham nhũng sớm nhất, nhanh nhất nước Việt, để Hà Nội nơi sống của tinh hoa đất Việt hướng cả đất Việt đến với tinh hoa của Thế Giới văn minh.

Ảnh và một số tư liệu từ Bách khoa toàn thư mở Wikipedia