TRÀ PHƯƠNG- NHÀ MẠC

XÃ HỘI (81) BUỒN. (35) SUY TƯ (33) TRÀ PHƯƠNG và NHÀ MẠC (31) DI SẢN VĂN HÓA (27) BUỒN (20) GIA ĐÌNH (19) THỜI SỰ (19) LỊCH SỬ (17) HỌ NGUYỄN CÔNG - TRÀ PHƯƠNG (12) CƯỜI (11) VUI (11) HỌ NGUYỄN CÔNG (8) SỨC KHỎE (8) DU LỊCH (6) TÔN GIÁO (5) BỐC (4) GHEN (4) PHÁP LUẬT (3) XA HOI (3) văn hóa (3) KINH TẾ (2) (2)
Hiển thị các bài đăng có nhãn TRÀ PHƯƠNG và NHÀ MẠC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TRÀ PHƯƠNG và NHÀ MẠC. Hiển thị tất cả bài đăng

6 thg 6, 2018

ĐÌNH LÀNG TRÀ QUÊ TÔI



Theo Đại Việt sử ký toàn thư: Năm 1070 nhà Lý đại thắng nhà Chăm, trên đường về Thăng Long đến cửa sông Văn Úc gặp lũ lớn phải vào sông Họng khi qua Trà Phương & Tú Đôi đã cho một phần tù binh người Chăm an cư tại Trà Phương & Tú Đôi. Người Chăm đã lập đền thờ thánh của họ ở phía Tây Nam mả Đò, sau nhiều năm họ vượt biển về quê cũ không ai thờ tự nên người Việt gọi là chùa Bà Đanh (đầu thế kỷ XX còn dấu tích).
Làng Trà Phương tên cổ là Trà Hương năm 1813 nhà Nguyễn cho là phạm húy đổi thành Trà Phương.
Năm 1527 Mạc Đăng Dung lập nên nhà Mạc, Thái Hoàng Thái Hậu họ Vũ vợ vua Mạc Đăng Dung là người Trà Phương sinh hoàng đế Mạc Đăng Doanh..., nên thời này Trà Phương phát triển rực rỡ với nhiều phủ, viện, đặc biệt là chùa Thiên Phúc do Thái Hoàng Thái Hậu cùng các vương tôn, công chúa, quan tướng nhà mạc hưng công xây năm 1565.
Từ cổ gái làng Trà có nhiều người đẹp nổi tiếng trong vùng Dương Kinh, ứng với lời đồng dao: “ Cổ Trai đế vương – Trà Phương công chúa”. Như vậy làng Trà Phương có trước năm 1070.

Theo" Trà Phương khoán ước" lưu tại VKHXH Hà Nội thì đình Trà Phương được sửa lại vào năm 1825, quy mô 3 gian 2 trái, hậu cung ở phía Đông, cột một người ôm không xuể, trên nền cao hơn 1m so với mặt ruộng, khoảng những năm thập kỷ 60 thế kỷ trước bị phá nay nền đình làm trường học.
Đình làng Trà thờ ba vị Thành Hoàng: Thiên Thần Vọng Hào; Thái Hoàng Thái Hậu họ Vũ; Đại Vương Linh Quy.
Như vậy đình làng Trà thờ 3 vị thành hoàng, gồm: Thiên Thần; Nhân Thần và Vật Thần, Bốn người có công đóng góp cho làng sau khi mất được dân làng thờ làm “hậu thần”, hàng năm cúng giỗ ở đình.
Đình làng nơi vinh danh, tôn thờ những người có công to lớn đối với làng cùng với vị trí của nơi đặt đình làng làm toát lên là nơi quan trọng bảo vệ, che chở cho dân làng trước các biến cố của tự nhiên và đời sống xã hội…nơi cầu mong Thành Hoàng làng và trời đất phù giúp mưa thuận gió hoà để mùa màng gặt hái thuận tiện, được nhiều phúc lành.
Đặc biệt đình làng Trà là nơi thờ Thái Hoàng Thái Hậu họ Vũ người Trà Phương là vợ Hoàng đế Mạc Đăng Dung, đã sinh vua Mạc Đăng Doanh, hậu duệ nhà Mạc, nên nhiều người họ Mạc mong đình làng Trà – (quê ngoại) được xây dựng khang trang để thỏa lòng tri ân với Hoàng đế Mạc Đăng Dung và Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn.

Nay tôi còn lưu được văn tế đình làng ta nêu rõ sự kiện lịch sử này.

Đình mất thành hoàng không có nơi thờ, sau nhiều năm vân động nay dân làng đang tổ chức xây đình nơi trung tâm làng Trà, theo người xưa sân đình nay dâng cao hơn mặt bằng của khu khoảng gần 1m, đình cửa mở về hướng Nam, quy mô: tổng diện tích 2.170 m2, đình ba gian 2 trái: 17,5 x 10,7 m, hâu cung phía Bắc, nền đình 5 bậc để tôn ngôi đình cao hơn khu dân cư tạo nên vẻ uy nghi của nơi thờ thần, dự toán kinh phí khoảng 2,3 đến 2,5 tỷ VNĐ, xung quanh đình sẽ trồng cây cảnh, cây lưu niên để bốn mùa hoa thơm quả ngọt thờ phượng thần hoàng và những người có công với làng.
Đình đã xây xong phần móng, đúc cột betong ... nên ban vận động làng văn hóa với tình yêu quê tha thiết rất mong ủng hộ của dân làng ở quê cũng như xa quê hương và Hội đồng Mạc tộc Việt nam ủng hộ về tinh thần và vật chất cho đình làng Trà sớm hoàn thành để là nơi thờ các vị thần, chúng ta cùng hưởng Phúc.


Rất mong các bạn đóng góp nhiều bài viết để chúng ta hiểu thêm về lịch sử, truyền thống của làng ta.

Mô hình đình sẽ xây dựng:


Móng đình đang xây ở trước cửa nhà văn hóa làng Trà.



24 thg 2, 2016

VÀI SUY NGHĨ VỀ MIẾU ĐẠI VƯƠNG LINH QUY, QUÊ NGOẠI NHÀ MẠC


Theo Đại Việt sử ký toàn thư: Năm 1070 nhà Lý đại thắng nhà Chăm Pa, bắt nhiều tù binh trên đường về Thăng Long đến cửa Văn Úc lũ lớn phải vào sông Họng khi qua Trà Hương & Tú Đôi đã cho một số tù binh người Chăm an cư tại Trà Phương & Tú Đôi, người Chăm đã lập đền thờ thánh của họ ở phía Tây Nam mả Đò, sau nhiều năm họ vượt biển về quê cũ không ai thờ tự nên người Việt gọi là chùa Bà Đanh (đầu thế kỷ XX còn dấu tích).
Làng Trà Phương tên cổ là Trà Hương năm 1813 nhà Nguyễn cho là phạm húy đổi thành Trà Phương. Trà Hương dịch theo tiếng Hán là: hương trà thơm, xưa hay lấy địa danh theo một vật thể ở vùng đó, có thể núi Chè ngày xưa có loại chè ngon mọc tự nhiên nên gọi là Trà Hương?. Năm 1527 Mạc Đăng Dung lập nên nhà Mạc, Thái Hoàng Thái Hậu họ Vũ vợ vua Mạc Đăng Dung là người Trà Phương, nên thời này Trà Phương phát triển rực rỡ với nhiều phủ, viện, con gái làng Trà có nhiều người đẹp nổi tiếng trong vùng Dương Kinh, ứng với lời đồng dao: “ Cổ Trai đế vương – Trà Phương công chúa”. Như vậy làng Trà Phương được lập trước năm 1070.

Thành Hoàng làng Trà có ba vị là: Thiên Thần Vọng Hào; Thái Hoàng Thái Hậu họ Vũ; Đại Vương Linh Quy. ( theo văn tế đình làng Trà)
Về MIẾU ĐẠI VƯƠNG LINH QUY:
“Núi Trà Phương thuộc địa phận thôn Trà Phương, Thụy Hương, Kiến Thụy, TP Hải Phòng. Tọa độ 20 độ, 44’, 20” B, 106 độ, 39’, 30” Đ, cao 52 m, sách “Đại Nam nhất thống chí” cho biết núi này cách huyện Nghi Dương, phủ Kiến Thụy, tỉnh Hải Dương 7 dặm về phía Tây. Sách “Hải Dương toàn hạt dư địa chí” cho biết núi Trà Sơn, tại xã Trà Sơn, tổng Trà Hương, huyện Nghi Dương, phủ Kiến Thụy, tỉnh Hải Dương, cao 30 trượng, rộng hơn trăm mẫu. Chân núi có đền Linh Quy (Rùa Thiêng), trong sân đền có một khối đá thiêng hình Rùa nổi lên, bên cạnh có giếng rất ngon. Trong vùng đầm ao, sản nhiều rùa, dân không dám bắt, không cho mang ra khỏi làng; dân quanh vùng cũng thờ thần Linh Quy” - Trích Từ điển địa danh Hải Phòng.
Xưa quanh núi Trà Phương cây các loài mọc như rừng nguyên sinh đặc biệt cây chè hợp thủy thổ nên phát triển mạnh nhất nên dân gọi là núi Chè & cổ hơn tên làng Trà Phương gọi là làng Chè, làng Trà Nhang ( có thể chữ nhang này thay chữ Hương do húy kỵ). Xưa sông cổ chảy từ Mai Dương qua Tiên Cầm chảy qua nơi giáp danh giữa Trà Phương & Phương Đôi, uốn sát ven núi Chè qua làng Quế xuôi về Cổ Trai, do vậy thuỷ triều sinh ra nhiều loài thủy sinh nước lợ đặc biệt là Rùa mai màu vàng, màu đen sống ở khắp làng Trà Phương. Chân núi có một khối đá thiêng hình Rùa nổi lên, bên cạnh có giếng rất ngon, nhà Lý cho lập miếu gần khối đá thiêng hình Rùa & sắc phong thần miếu là:” Đại Vương Linh Quy” Nơi đây cây cối bốn mùa xanh tốt chiều đến chim các nơi về bay rợp trời rồi đáp xuống ngủ đêm. 
 Ngày 6 tháng Hai hàng năm là ngày lễ Đại Vương Linh Quy, các Giáp mang lễ là lợn nguyên con, cùng đồ tế lễ, mình Đại Vương Linh Quy được phủ kín giấy màu đỏ, kết thúc lễ được hóa cùng vàng mã.
Miếu “Đại Vương Linh Quy” được sửa lại vào năm 1925( Ất Sửu) khuôn viên 10m x 20m, hướng cửa Tây Bắc có tam quan, tọa Đông Nam, tả hữu có giải vũ để người tế lễ đứng, trước đầu Đại Vương Linh Quy là bàn để lễ, phía sau Đại Vương Linh Quy là ngôi miếu thờ bài vị, phía sau miếu có cây duối to hơn người ôm. Năm 1947 người Pháp bắn đạn cối vào gần miếu do sức ép nên miếu hư hỏng nhẹ, miếu đổ đến cuối thế kỷ XX miếu chỉ còn lại móng, Đại Vương Linh Quy bị hủy hoại phần đầu. Khoảng đầu thế kỷ XXI dân đã phục dựng khu miếu này.
Trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt Nam có rất nhiều nơi thờ cúng khác nhau như đình, đền, chùa, miếu, phủ, quán, am,… Miếu là một dạng di tích văn hóa trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Đối tượng được thờ ở miếu rất đa dạng, miếu thờ thần núi là miếu Sơn thần, miếu thờ thần nước là miếu Hà Bá hoặc miếu Thủy thần, thờ thần đất là miếu thổ thần hoặc thần Hậu thổ. Miếu ” Đại Vương Linh Quy” là trong hệ thống thờ phụng trên.
Theo thống kê thế giới nay có khoảng 37.000 tôn giáo.Tại Việt nam có tới 10 đạo khác nhau: 1. Đạo Ông bà (Ancestor Worship), 2. Đạo thờ Thần (Idolatry), 3. Đạo Lão (Taoism), 4. Đạo Khổng (đạo Nho) (Confucianism), 5. Đạo Phật (Buddhism), 6. Đạo Công Giáo (Catholicism), 7. Đạo Tin Lành (Protestantism), 8. Đạo Cao Đài (Caodaism), 9. Đạo Phật giáo Hoà Hảo (Hoa Hao Buddhism), 10. Đạo Hồi (Islamism).
 Theo quy định của các tôn giáo đều có lời khấn, thề... riêng,  ví dụ: lời khấn đạo Phật mở đầu là: "Nam mô a di da Phật". Với hơn hai tỉ giáo dân công nhận Chúa Giê-su là Đấng Lãnh Đạo của họ.  Đây là lời cầu nguyện Chúa Giê-su đã dạy các môn đồ, và được mở đầu như sau: “Lạy Cha chúng tôi ở trên trời; danh Cha được thánh; Nước Cha được đến; ý Cha được nên, ở đất như trời!”.—Ma-thi-ơ 6:9, 10. và nhiều tôn giáo đều có lời khấn... riêng.

 MIẾU ĐẠI VƯƠNG LINH QUY lời khấn nên là: "Kính bái Đại Vương Linh Quy" mới đúng lễ nghi thờ thần. Nhiều tín đồ đã ngộ nhận dùng lời khấn: "Nam mô a di da Phật" có lẽ sai vì  Đại Vương Linh Quy là Thần chứ không phải là Phật.
Nay dân đã phục dựng một phần khu thờ tự Đại Vương Linh Quy mong rằng chúng ta cần nghiên cứu xây dựng, thờ phụng theo thuần phong mỹ tục, theo quy định của pháp luật, không để những kẻ lợi dụng tôn giáo trục lợi, có như vậy việc thờ phụng mới có giá trị nhân văn góp phần xây dựng làng Trà Phương quê hương của Thái Hoàng Thái Hậu nhà Mạc, một miền quê đầy huyền thoại cổ tích nhanh chóng trở thành “nông thôn mới” theo chủ trương của Đảng & nhà nước.

"KÍNH BÁI Đại Vương Linh Quy !", cầu mong Đại Vương Linh Quy phù hộ độ trì cho các tín chủ được hưởng phúc, phù hộ độ trì cho dân làng Trà Phương: An, Khang, Thịnh, Vượng, xứng với thời Thái Hoàng Thái Hậu và càng ngày phát triển bền vững, xuất hiện nhiều nhân tài vì nước vì dân!
Trà Phương, Mùa Xuân Bính Thân! Nguyễn Công Kha. Blog, Khatraphuong.

Cánh đồng Hương - Trà Phương, năm 2012. Ảnh Nguyễn Công Khanh, PV báo Tiền Phong.

9 thg 9, 2015

VÌ SAO BIA VỠ

Tôi lại về Dương kinh
Ngắm những tấm bia vỡ
Không hề có động đất
Sao bia vỡ làm đôi
Năm 1592
Trịnh Tùng chiếm được Thăng Long
Điểm ngay binh mã về miền Dương Kinh
Máu người chảy đỏ cả sông
Tấm bia cũng đập huống chi là người
Nhà Mạc đổ Lê đà Lê lại
Một nhóm người chiếm cả non sông
Nước mình lạ thật
Lợi ích nhóm kinh ghê
Khi tranh giành ngôi báu
Giết đi, giết nữa chẳng ghê tay
Trần xóa Lý
Hồ xóa Trần....
Nguyễn xóa Quang Trung...
Thắng đà truy sát đến cùng
Dẫu đầu kẻ bại cũng vào ngục trung
Cửu tộc chịu cảnh phanh thây
Tấm bia sử ký cũng thành vôi tôi
Đất nước đến nay có thế?
Phá văn hóa tiền nhân
đến bao giờ lớn được
Tấm bia có tội tình gì?
Sao mà bị vỡ lạ kỳ? làm đôi.






8 thg 9, 2015

DƯƠNG KINH VÙNG ĐẤT THIÊNG

Yêu quê mình Dương Kinh
Vùng đất thiêng
Nuôi nhà Mạc từ dân chài nên nghiệp Đế
Cho dân no đủ bốn mùa
Đường trường không phải phòng thân
Nay tôi lướt trên dòng Đa Độ
Xưa Cửu Biều chín khúc rồng bay
Cho lúa vàng mấy mùa bát ngát
Vừa vượt qua đò Cổ
Bỗng thấy Dương Kinh xưa
Bao đền đài tráng lệ
Soi bóng bên sông Cửu Biều
vời vợi ánh trăng, lung linh bóng nứơc.
Ta như nghe thấy trống chiêng năm trăm trước
Hiện về!
Mái chèo khua cuộn nước của những hạm đội kiêu hùng
Nhưng buồn thay lại là những năm trường nội chiến.
Thương quê mình dân khổ
Bởi bao nạn binh đao
Bao giờ ta trở lại
như Minh Đức một thời
Bát cơm, canh cá đủ no
Đường trường không phải phòng thân
Nay tôi thấy như người xưa trởlại?
Những hạm đội kiêu hùng
Vút ra biển Đông dậy sóng
Đè cổ quân thù, giành lại biển xanh
Yêu lắm một thời non nước Dương Kinh!

5 thg 3, 2015

HỘI "MINH THỀ" LỄ HỘI ĐỂ CHỐNG THAM NHŨNG CÓ TỪ THỜI NHÀ MẠC


Lễ hội Minh Thề ở thôn Hoà Liễu, xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng.
Khoảng giữa thế kỷ XVI, Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn vợ của Thái Thượng hoàng Mạc Đăng Dung bỏ tiền và vận động hoàng thân quốc thích, quan lại triều Mạc cả thảy 35 vị góp tiền của để tu tạo lại ngôi chùa cổ và Thái hoàng Thái Hậu mua 25 mẫu 8 sào 2 thước cúng Tam Bảo cho dân Lan Niểu (nay là thôn Hoà Liễu) được sử dụng theo những quy định được ghi tại văn bia của làng.
Ruộng này làng gọi là Thánh điền, một phần diện tích dành cho nhà chùa cấy, một phần dùng vào việc tuần tiết lễ hội, còn lại để chia cho dân đinh cày cấy hưởng lộc và cho cấy đấu thầu lấy thóc lập quỹ nghĩa thương phòng khi đói khó cấp đỡ cho người nghèo, cố nhân, quả phụ…
Có thể đề phòng chức dịch tham nhũng trong sử dụng hoa lợi từ số ruộng trên, Thái hoàng Thái hậu đã cùng với dân làng lập ra Hịch văn hội Minh thề quy định lấy chí công làm trọng. Hội dài tới 3 ngày, vào 14, 15 và 16 tháng Giêng, nhưng “Minh thề” được tổ chức ngay buổi khai hội. Xưa kia, trước khi khai mạc “Hội thề” dân làng tế Thánh tại miếu chính thường có chức dịch hàng tổng, quan lại hàng phủ về dự chứng kiến.
Các nghi lễ được tiến hành trang trọng, chủ lễ và các vị bồi lễ đọc chúc văn lai lịch công đức của Thánh vương. Sau đó làm lễ dâng hương, dâng rượu, dâng nước trong tiếng nhạc bát âm. Tế thần xong, các bô lão, quan khách và dân làng, chức dịch, quần áo chỉnh tề tập trung quanh sân miếu theo thứ bậc. Chủ tế dùng động tác “chỉ trời vạch đất” mô phỏng theo phép biến trong Kinh dịch rồi vẽ một vòng tròn lớn đường kính khoảng 2m ở giữa sân miếu gọi là Đài thề. Trước Đài thề đặt một bàn thờ hướng về cửa miếu thâm nghiêm.
Ba vị đại diện cho hàng ngũ chức dịch, hội tư văn và bô lão trong làng do ban tổ chức lễ hội thề và hội đồng bô lão tuyển chọn bước lên Đài thề làm lễ thắp hương khấn vái trời đất bách thần. Đại diện tư văn dõng dạc đọc Minh thề có Hịch văn.
Mọi người trong làng từ hương chức đến nhân dân, trên là bô lão, dưới từ 18 tuổi trở lên, đều thề: "Ai dùng của công dùng vào việc công xin thần linh ủng hộ, ai lấy của công dùng vào việc tư, cầu thần linh đả tử… làm tôi bất trung, làm con bất hiếu, xin thần linh tru diệt". Sau khi mọi người cùng hô vang câu “y như lời thề” hoặc “y như miệng thề”, vị chủ tế cầm dao bầu cắm mạnh xuống trong vòng tròn Đài thề để biểu thị sự quyết tâm.
Tiếp đến là nghi lễ cắt tiết gà để uống máu ăn thề diễn ra rất cầu kì theo một quy định truyền thống từ ngàn đời. Máu gà trống được hòa vào bình rượu lớn, mỗi người truyền tay nhau uống một ngụm khẳng định sự đoàn kết thực hiện đúng lời thề.
Lược theo HP từ điển và Sơn Hùng.
Theo tôi với tình hình tham nhũng hiện nay, nhà nước Việt Nam nên nâng hội “Minh thề” từ cấp thôn thành hội cấp quốc gia, để các cán bộ trung ương phải thề như lời thề trên trước quốc dân : "Ai dùng của công dùng vào việc công xin thần linh ủng hộ, ai lấy của công dùng vào việc tư, cầu thần linh đả tử… làm tôi bất trung, làm con bất hiếu, xin thần linh tru diệt" vị trí hội thề nên lấy sân Quốc hội. Tôi tin rằng tinh thần của hội này sẽ có sức mạnh rất lớn trong sự nghiệp chống tham nhũng của Đảng và Chính phủ, vì tham để sống xa hoa trên đau khổ của dân là "đả tử " thì lũ tham tất kinh, vì nhiều nghị quyết Ta ra không có cụm từ "đả tử ". Chắc những quốc gia có nạn tham nhũng sẽ cho Ta là gương sáng xin cùng cán bộ của ta cùng thề các ông xem sao?


Cách đây hơn 400 năm đây là bến thuyền để  Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toànvề Trà Phương và Cổ Trai

Cách đền 500 m về phía Đông nam là núi Trà Phương là quê củaThái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn

Ngôi chùa Thiên Phúc doThái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn xây vào đầu thế kỷ XVI

Con dao trong hội thề.

Gà sẽ được cắt tiết để lấy máu cho quan dân uống thề.

18 thg 10, 2014

NHỮNG GƯƠNG MẶT MẾN THƯƠNG


Nhưng gương mặt mến thương!
Langf quee VN owr sâu xa còn nhiều lạc hậu lắm nhưng may bọn trẻ có Internet - thế giới mở, người nhiều tuổi có TV nhưng chỉ có kênh cúng cụ nên chỉ thấy Ta nhất địa cầu, nhất là khoản Ta thắng mấy đế quốc to...
Hội làng như một nhu cầu về vật chất và tinh thần, để hội tụ những tinh hoa của bản địa và thế giới thông qua những con người đã sinh ra ở những miền đất ấy.
Lâu đến 30, 40... năm chưa gặp mặt, nay gặp thấy thay đổi, người có thu nhập khá ít bệnh - phương phi, người thu nhập thấp, có bệnh - tiều tụy, kẻ có tí quan: ngoan - khiêm nhường; thể hiện: vênh, tinh tướng. Người nông dân thu nhập thấp bao nhiêu thứ đòi tiền, gương mặt héo hon. Ôi dân tôi, những gương mặt mến thương hãy vui lên! nhưng làm gì để vui? câu hỏi nhà nước có phần phải trả lời dân nhất là ở vùng sâu xa!







NHÀ VĂN HÓA

Mừng nhà văn hóa làng Trà Phương!
Làng tôi được hình thành từ thời nhà Lý, theo ĐVSKTT: khi Lý Thánh Tông đánh thắng Chiêm Thành đã bắt tù binh, trên đường về Kinh đã an trí người Chăm tại Trà Phương, cách đây vài chục năm còn dấu tích đền thờ của họ ở ven mả Đò. Năm 1556 Thái Hoàng thái Hậu họ Vũ người làng Trà đã di chuyển đền và xây mới thành chùa Thiên Phúc, còn đình làng chắc cũng được xây dựng lại từ thời đó. Vì liên quan đến Vua Mạc nên đình chùa Trà Phương đều to đẹp.
Theo" Trà Phương khoán ước" lưu tại VKHXH Hà Nội thì đình Trà Phương được sửa lại vào năm 1825, quy mô rất lớn, khoảng những năm thập kỷ 60 thế kỷ trước bị phá nay nền đình là trường học.
Đình được hình thành từ thời Lý và phát mạnh vào thời nhà Mạc. Đình là nơi thờ Thành Hoàng đồng thời cũng là trụ của chính quyền cấp làng, như vậy nó bao gồm cả thần quyền và thế quyền.
Nay đình mất thành hoàng không có nơi thờ. Nhà văn hóa là mô hình mới của chế độ đương thời nó có quy chế sử dụng, liệu thờ thành hoàng tạm vào nơi đó có hay? khi làng chưa xây được đình. câu hỏi này thật hay cho chúng ta suy ngẫm, xét cho cùng việc thờ thành hoàng cũng là văn hóa, nó tôn vinh những người có công lập lên làng từ xa xưa. làng Trà có 3 vị thành hoàng, rất lạ là làng ta có 3 vị thành hoàng gồm: Thiên Thần; Nhân Thần; Vật Thần, mong người yêu làng Trà cùng nhau nghiên cứu, bảo vệ văn hóa của làng.

11 thg 7, 2014

THÁI HOÀNG THÁI HẬU NHÀ MẠC



Hôm nay ngày 15/ 06 Âm lịch là ngày giỗ Thái Hoàng Thái Hậu là người làng Trà Phương, Người là vợ của Mạc Thái Tổ, cùng chồng đã tạo dựng nên thời đầu của nhà Mạc hưng thịnh, ngay chính sử nhà Lê phải công nhận một thời “Người đi buôn không phải mang vũ khí, gia súc chăn thả không phải kiểm đếm, đêm ngủ nhà không phải đóng cửa” từ xưa đến nay chưa triều nào được vậy?

Sử liệu chính thống hiện không có thông tin gì về Người (do nhà Lê – Trịnh bôi xóa nhà Mạc), nhưng sử liệu điền dã và nhất là bia thời Mạc nói về Người rất nhiều. Hai nguồn sử liệu này đều thống nhất ca tụng vị Thái Hoàng Thái Hậu này “là bậc thánh mẫu của thánh triều, chính vị Đông trào, hóa thành nam quốc, sánh đức thánh thiện Đồ Sơn (nhà Hạ)” Dân vùng Kiến Thụy, An Lão nay còn truyền dải đất ven đầm từ trang Tiên Cầm đến Kỳ Sơn tục gọi là giải yếm bà Chúa là ruộng Thái Hoàng Thái Hậu ban cho dân Trà Phương 101 mẫu, do Người mua của nhà nước nên dân làng không phải đóng thuế.
Về việc Người đứng hưng công xây mới, sửa chữa chùa chiền, cầu quán, chợ búa còn khá nhiều như chùa Sùng Quang xã Do Nghi huyện Vĩnh Lại, chùa Thánh Thọ xã Hoàng Trạch huyện Cẩm Bình, chùa Sùng Ân xã Thọ Lão huyện Phù Tiên, chùa Bảo Thúc xã Thái Khê huyện Yên Hưng, chùa Bảo Lâm xã Trâu Bộ huyện Giáp Sơn, chùa Báo Ân xã An Chiểu huyện Phù Tiên, chùa Phổ Chiếu xã Văn Lan nay là thôn Văn Hòa, chùa Thiên Phúc, xã Trà Hương nay là thôn Trà Phương, chùa Thiên Phúc ở Nan Liểu nay là Hòa Liễu xã Thuận Thiên, chùa Trúc Am thôn Du Lễ đều thuộc huyện Kiến Thụy; chùa Hà Lâu xã Đông Minh nay là thôn Đông Minh, chùa Minh Phúc và cầu Quán ở xã Cẩm Khê nay là thôn Cẩm Khê đều thuộc huyện Tiên Lãng.

Số tiền Người đã cúng cho việc nêu trên trị giá khoảng 6000 lá vàng cho việc tu tạo các chùa vùng Bắc Bộ, nơi ít nhất là 10 quan tiền như chùa Báo Ân xã An Chiểu, nơi nhiều nhất là chùa, cầu, quán xã Cẩm Khê do bà hưng công, sau lại mua cho xã 5 mẫu ruộng trị giá 120 lạng bạc.

Đọc trên văn bia chùa Trà Phương, chùa Liễu và tài liệu văn bia nhà Mạc, tôi khẳng định Thái Hoàng Thái Hậu người làng Trà Phương là họ Vũ.

Nay Trà Phương có 3 họ Vũ, họ nào là hậu duệ của Thái Hoàng Thái Hậu họ Vũ phải nghiên cứu.

Tượng Người được hậu duệ nhà Mạc tạo mới năm 2014 theo tượng của Người đang được thờ tại chùa Trà Phương.

10 thg 6, 2014

VĂN TẾ ĐÌNH LÀNG TRÀ PHƯƠNG LIÊN QUAN ĐẾN NHÀ MẠC






Standard
Tháng 7 năm Kỷ Sửu Tôi đã nhận được bản Văn tế đình làng Trà Phương, do ông Nguyễn Văn Thi lưu giữ. Ông Lê Đức Đôn ở số 3 Minh Khai, Hồng Bàng, HP dịch, mới thấy làng tôi thờ Ba vị Thành Hoàng là: Thái Hoàng Thái Hậu Nguyễn Thị Ngọc Toản, Thiên Thần Vọng Hào thờ tại đình làng, Đại vương Linh Quy thờ tại miếu chân núi Trà Phương. Văn tế còn ghi tế vị quan thái giám nhà Mạc, Chúc Hiên tiên sinh; tổ tiên của Thái Hoàng Thái Hậu: Hoàng tổ khảo Tả đô đốc Nguyễn Quý Công, Hoàng tổ tỷ Vũ Quý nương …và một số vị quan nhà Mạc, các trưởng tộc sống ở làng Trà. Cả hai nơi thờ tự đều bị phá, nay chỉ còn trong ký ức của những người cao tuổi.
 Với tấm lòng thành Tôi muốn sưu tập các chứng cứ vật thể hoặc phi vật thể để cùng dân làng khôi phục các di tích, để thờ phụng các vị thành hoàng cho đúng đạo lý của con người.
Mong mọi người góp công, góp của, mọi người đồng tâm để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp thấm đậm tình người từ ngàn xưa .
VỀ HỌ CỦA THÁI HOÀNG THÁI HẬU NGƯỜI LÀNG TRÀ
Thời gian gần đây tâm thức tôi bừng dậy những mong ước từ ngày xưa, tôi nhớ lại và sưu tầm những chuyện liên quan đến triều Mạc và Thái Hoàng Thái Hậu. Bài văn tế đình làng Trà, thì họ của Thái Hoàng Thái Hậu là họ Nguyễn, theo văn bia tại chùa Hòa Liễu là họ Vũ. Tâm tình với một số dân làng Trà thì người họ Vũ cho rằng Thái Hoàng Thái Hậu là họ Vũ, họ Nguyễn và họ khác thì cho rằng Thái Hoàng Thái Hậu là họ Nguyễn.
 Chúng ta phải nhận thức rằng triều Nhà Mạc bị Lê – Trịnh diệt về mọi mặt nên lịch sử đang được các nhà sử học tìm lại sự khách quan về triều Mạc, cho nên chúng ta không nên bàn nhiều về việc này, dù họ nào thì Thái Hoàng Thái Hậu cũng là người con của làng Trà chúng ta, đã cùng Mạc Thái Tổ tạo dựng nên thời đầu của nhà Mạc hưng thịnh: “Người đi buôn không phải mang vũ khí, gia súc chăn thả không phải kiểm đếm, đêm ngủ nhà không phải đóng cửa”, chính sử nhà Lê phải công nhận, từ xưa đến nay triều nào được vậy?  
Để tìm lại và trả lại những gì quý báu của người xưa thì có mấy ai? tâm huyết muốn làm sáng tỏ những uẩn khúc của lịch sử đó là ta cần bàn, cần làm. Yêu quê hương tôi mong rằng mỗi người con làng Trà vì tâm linh, vì lịch sử mà hãy góp phần xây dựng làng Trà ngày càng giàu đẹp và văn minh, để các thế hệ tiếp nối xứng danh cùng thiên hạ.
Tôi rất mừng khi gặp con của Vũ Duy Tuấn tuổi nhỏ mà quan tâm đến những sự kiện liên quan đến lịch sử làng Trà thật may thay, một cháu nhỏ đang nhân lên niềm vui lớn trong tôi, đừng vị kỷ thì mọi việc vì tâm linh sẽ được bề trên ghi nhận.
Việc tìm tấm bia ở ao đình ai là người cản trở? Tìm được nó để chúng ta biết về lịch sử làng Trà Phương thật tuyệt!
Đọc trên văn bia chùa Trà Phương, chùa Liễu và tài liệu văn bia nhà Mạc, tôi khẳng định Thái Hoàng Thái Hậu người làng Trà Phương là họ Vũ.
Nay Trà Phương có 3 họ Vũ, họ nào là hậu duệ của Thái Hoàng Thái Hậu họ Vũ phải nghiên cứu. Thương ôi có người ngộ nhận họ mình là hâu dụệ của Người, thật nực cười đúng như : Thấy sang....

22 thg 7, 2013

AI ĐỊNH PHÁ CHÙA TRÀ PHƯƠNG - DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA?


                                                                              

Chùa Thiên Phúc, tên c là chùa bà Đanh, s Vit có ghi: ti Trà H­ương , Trà Hương tng, Nghi D­ương huyn có chùa bà Đanh. 
Trước 1565 chùa Bà Đanh do người Chăm tù binh ca nhà Lý b an trí ti Trà Phương xây, v trí phía Tây Nam ca làng ven li sang trang Du L.
 Năm 1565 Nhà Mc chuyn, xây dng ti đa đim hin nay, đi tên là chùa Thiên Phúc. 

Bia chùa còn ghi: Bia tu to Bà Đanh t

Thái Hoàng Thái Hu
Khiêm Thái V
ương cúng 10 lng bc. L Vương, Thun Vương cúng 5 lng bc. Vinh Quc thái phu nhân 9 lng 5 tin. Tĩnh quc thái phu nhân 10 lng. Bo gia thái trưởng công chúa tin 10 quan. Phúc Nghi thái trưởng công chúa 1 lng 8 tin. Th Phương thái trưởng công chúa 2 lng 8 tin. Phúc thành thái trưởng công chúa. Sùng Quc công 5 lng. Văn Quc công 9 lng 5 tin Ninh Quc công 2 lng, Triu Qun công 1 lng. Phú Qun công 1 lng. Trnh Qun công g lim 2 cây. Ngn Qun công 1 lng. Khang Qun công 1 lng. An Qun công 1 lng, khuyên tai 1 đôi . V Qun công 1 lng, khuyên tai 1 đôi . Dương Qun công 1 lng. Tuy Qun công 1 lng, Thanh Uy hu 1 lng. Dng bia ngày 26 tháng 8, năm Thun phúc sơ niên 1565)
 Rung tín thí:
Ngày 8 tháng 10 nhun năm Bính Dn, Thái Hoàng Thái Hu có rung ca bn đin được cp và mua mi tt c là 1 mu 9 sào cúng vào chùa Bà Đanh làm ca Tam Bo. Kê: Mt mnh x Ngoi T Ci 1 mu 9 sào ti xã Lan , huyn An Lão: Phía Đông gn rung ca c Hương La hu Vũ Tr, Tây gn rung An Lc bá Vũ Du M, Nam gn chm, bc gn đường. Phn trên có bia rung cúng tiến làm ca Tam Bo, giao cho chùa đ tin cày cy và khói hương th Thánh. Nếu ai mai táng lên rung, phá hoi rung di chuyn bia rung đu b chư Pht chiếu xét, tru di ba đi. Nay th nguyn.

Bia khc năm 1566 kh 0,65 x1,10 m, hai mt có khong 300 ch Nho, chm mt Tri, rng chu, dây leo, cánh sen.(1) 
Theo văn bia này: Thái Hoàng Thái Hu Vũ Th Ngc Toàn người làng Trà Hương huyn Nghi Dương x Hi Dương, (nay là thôn Trà Phương, xã Thu Hương, huyn Kiến Thy, T P Hi Phòng) cùng các thân vương nhà Mc đã hưng công xây chùa
Năm 1936 - 1938 bà Ngô Th Dĩnh người làng Trà cùng chng là Giám đc Đài thiên văn Phù Lin (người Pháp) hưng công vn bc sa chùa nên có thêm kiến trúc thi Nguyn. Bng tin ca mình nhưng hai người vn khiêm nhường, xây li chùa nguyên trên nn cũ do Thái Hoàng Thái Hu và các thân vương nhà Mc đã dng t xưa.
 Đ
u thế k XXI hoà thượng Thích Qung Mn dùng tin ca thp phương đo ngói, tô tượng, lát nn... tôn thêm v đp ca chùa. Năm 2007 nhà nước công nhn chùa là: "Di tích lch s văn hoá cp Quc gia".

Xưa đng v đnh núi Chè nhìn xung cánh đng Hương thy rõ hình chiếc lược ôm ly gương tròn và con dao nh. Thế đt y, theo các nhà phong thy gii thích làng Trà Phương thường sinh con gái có nhan sc, đc hnh. Thái Hoàng Thái Hu v ca vua khai sáng nhà Mc sinh ra đt này và câu đng dao c: “C trai Đế Vương, Trà Hương Công Chúa” chng minh thuyết phong thy trên.


S
liu chính thng hin không có thông tin gì v Người (do nhà Lê – Trịnh bôi xóa nhà Mạc), nhưng s liu đin dã và nht là bia thi Mc nói v bà rt nhiu. Hai ngun s liu này đu thng nht ca tng v Thái Hoàng Thái Hu này “là bc thánh mu ca thánh triu, chính v Đông trào, hóa thành nam quc, sánh đc thánh thin Đ Sơn (nhà H)” Dân vùng Kiến Thy, An Lão nay còn truyn di đt ven đm t trang Tiên Cm đến Kỳ Sơn tc gi là gii yếm bà Chúa là rung Thái Hoàng Thái Hu ban cho dân Trà Phương.
Riêng v vic Người đng hưng công xây mi, sa cha chùa chin, cu quán, ch búa còn khá nhiu như chùa Sùng Quang xã Do Nghi huyn Vĩnh Li, chùa Thánh Th xã Hoàng Trch huyn Cm Bình, chùa Sùng Ân xã Th Lão huyn Phù Tiên, chùa Bo Thúc xã Thái Khê huyn Yên Hưng, chùa Bo Lâm xã Trâu B huyn Giáp Sơn, chùa Báo Ân xã An Chiu huyn Phù Tiên, chùa Ph Chiếu xã Văn Lan nay là thôn Văn Hòa, chùa Thiên Phúc, xã Trà Hương nay là thôn Trà Phương, chùa Thiên Phúc  Nan Liu nay là Hòa Liu xã Thun Thiên, chùa Trúc Am thôn Du L đu thuc huyn Kiến Thy; chùa Hà Lâu xã Đông Minh nay là thôn Đông Minh, chùa Minh Phúc và cu Quán xã Cm Khê nay là thôn Cm Khê đu thuc huyn Tiên Lãng.

S tin Người đã cúng trị giá khoảng 6000 lá vàng cho việc tu tạo các chùa vùng Bắc Bộ, nơi ít nht là 10 quan tin như chùa Báo Ân xã An Chiu, nơi nhiu nht là chùa, cu, quán xã Cm Khê do bà hưng công, sau li mua cho xã 5 mu rung tr giá 120 lng bc.
Chùa Trà có nhiu hin vt, văn hoá nhà Mc, nhà Nguyn, h thng t­ung Pht đ­ược tc khc rt tinh so, đc bit có hai pho t­ượng đá xanh tc Hoàng đế Mc Đăng Dung và Thái Hoàng Thái Hu  Th Ngc Toàn nay th bên phi, bên trái th ba công chúa nhà Mạc. Phía Đông là nơi th t trong đó có th mt v quan nhà Mc  chng bà Dĩnh có công xây chùa.
 Tôi tham quan nhiu chùa Vit Nam, nhưng thy chùa làng Trà rất đp về phong cảnh, nht là tượng và đ thờ rất tinh xảo, xứng với nhng văn tự trong chùa như: Bảo quốc an dân”, “Lưu phương vạn cổ”, “Phú biến vân từ”…                                                                                                                                                 
Nhiều di tích liên quan đến nhà Mạc và Thái Hoàng Thái Hậu bị thời gian và con người tàn phá, nay còn đây ngôi chùa Thiên Phúc,


 thế mà chiều ngày 25/2 âm lịch ( 16/04/2012) ni cô Trang phán: phá chùa chính lấy khung gỗ làm nhà thờ Tổ, chùa chính làm mới lui về phía Đông. May mà các cơ quan chức năng ngăn chặn, nếu không chùa làng Ta sẽ như thế nào?



Ni cô này cùng ai? đã tàn phá vành đai cây xanh để xây tường đá ba mặt như “nhà tù” nổi trên giữa đồng quê yên bình, định xóa đi “Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia” chăng?
 


 Họ định “bê tông hóa” chùa Trà, cho hoành tráng như một số ngôi chùa đựợc xây sửa gần đây, đó là thảm họa cho các di tích như chùa Trăm gian, thành nhà Mạc… mà ta đã thấy.
Chắc rằng Thái Hoàng Thái Hậu, các thân Vương nhà Mạc, gia đình bà Ngô Thị Dĩnh, Hòa thượng Thích Quảng Mẫn và bao tín đồ đã có công xây dựng chùa Thiên Phúc sẽ xử lý việc trên theo phật pháp, cơ quan nhà nước sẽ xử họ theo Luật pháp để chùa làng ta được an lành.
Mỗi người làng Trà hãy quyết tâm cùng Hội Phật giáo, Nhà nước bảo vệ và duy tu chùa Trà mãi là danh thắng cả xứ Đông, báu vật của làng Ta và cũng là báu vật của Quốc gia!
Nam mô di đà Phật!
Trà Phương mùa Xuân năm Nhâm Thìn.
Tài liệu tham khảo:
-         (1) Văn bia thời Mạc- PGS.TS Đinh Khắc Thuân – NXBHD-2010.
-         “Trà phương khoán ước” – Viện Hán nôm.
-         Dân làng Trà kể.