TRÀ PHƯƠNG- NHÀ MẠC

Hiển thị các bài đăng có nhãn TÔN GIÁO. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TÔN GIÁO. Hiển thị tất cả bài đăng

19 thg 4, 2013

NI CÔ TRANG ĐANG PHÁ CHÙA TRÀ PHƯƠNG - DI TÍCH QUỐC GIA.


Làng Trà Hương (tên Nôm là làng Chè) huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, xứ Hải Dương. Đến đời Nguyễn đổi là làng Trà Phương vì kiêng Quốc húy. Làng Chè là một làng cổ, ít nhất có từ thời hậu Lý ( 1010-1225) vì trong chùa hiện còn đôi câu đối chữ Hán:

                      “Lý triều khai sáng danh lam cựu
                  Mạc đại trùng hưng cảnh sắc tân"

 Thái Hoàng Thái Hậu đầu triều Mạc họ Vũ - người làng Trà Phương sinh Hoàng đế Mạc Đăng Doanh anh minh đã chấn hưng và đem lại thái bình cho đất nước vào đầu thế kỷ XVI. Thái Hoàng Thái Hậu được người đương thời tôn là vị Bồ tát đã chấn hưng đạo Phật đầu thế kỷ XVI, Ngưòi đã cúng hơn 30 mẫu ruộng, vàng 6000 lá cùng nhiều tiền, gỗ… xây sửa nhiều chùa ở Bắc bộ.
Xây Bà Đanh tự nay là chùa Thiên Phúc ở làng Trà Phương, cúng chùa 1,9 mẫu ruộng, ban cho làng Trà 101 mẫu 2 sào, 10 thước 3 tấc 8 phân .

Nay còn tấm Bia tu tạo Bà Đanh tự ghi:

Thái Hoàng Thái Hậu

Khiêm Thái Vương cúng 10 lạng bạc. Lị Vương, Thuận Vương cúng 5 lạng bạc. Vinh Quốc thái phu nhân 9 lạng 5 tiền. Tĩnh quốc thái phu nhân 10 lạng. Bảo gia thái trưởng công chúa tiền 10 quan. Phúc Nghi thái trưởng công chúa 1 lạng 8 tiền. Thọ Phương thái trưởng công chúa 2 lạng 8 tiền. Phúc thành thái trưởng công chúa. Sùng Quốc công 5 lạng. Văn Quốc công 9 lạng 5 tiền Ninh Quốc công 2 lạng, Triều Quận công 1 lạng. Phú Quận công 1 lạng. Trịnh Quận công gỗ lim 2 cây. Ngạn Quận công 1 lạng. Khang Quận công 1 lạng. An Quận công 1 lạng, khuyên tai 1 đôi . Vị Quận công 1 lạng, khuyên tai 1 đôi . Dương Quận công 1 lạng. Tuy Quận công 1 lạng, Thanh Uy hầu 1 lạng.
 Dựng bia ngày 26 tháng 8, năm Thuần phúc sơ niên 1565)

Ruộng tín thí:
Ngày 8 tháng 10 nhuận năm Bính Dần, Thái Hoàng Thái Hậu có ruộng của bản điện được cấp và mua mới tất cả là 1 mẫu 9 sào cúng vào chùa Bà Đanh làm của Tam Bảo. Kê: Một mảnh xứ Ngoại Tổ Cội 1 mẫu 9 sào tại xã Lan Ổ, huyện An Lão: Phía Đông gần ruộng của cố Hương La hầu Vũ Trụ, Tây gần ruộng An Lộc bá Vũ Du Mỹ, Nam gần chằm, bắc gần đường. Phần trên có bia ruộng cúng tiến làm của Tam Bảo, giao cho chùa để tiện cày cấy và khói hương thờ Thánh. Nếu ai mai táng lên ruộng, phá hoại ruộng di chuyển bia ruộng đều bị chư Phật chiếu xét, tru di ba đời. Nay thề nguyện.

Bia khắc năm 1566 khổ 0,65 x1,10 m, hai mặt có khoảng 300 chữ Nho. Chạm mặt Trời, rồng chầu, dây leo, cánh sen.(1)

Trước 1565 Bà Đanh tự do người Chăm tù binh của nhà Lý bị an trí tại Trà Phương xây, vị trí ở phía Tây Nam của làng ven lối sang trang Du Lễ. Theo văn bia dựng năm Thuần phúc sơ niên 1565 Thái Hoàng Thái Hậu họ Vũ người làng Trà, cùng các thân vương nhà Mạc hưng công xây chùa ở vị trí hiện nay.

Chùa là di tích văn hoá thời nhà Mạc ngoài tượng Phật, còn có tượng của Mạc Thái Tổ và Thái Hoàng Thái Hậu họ Vũ tạc bằng đá xanh, là tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp thời Mạc.
 Năm 1936 -1938 bà Ngô Thị Dĩnh người làng Trà, cùng chồng (người Pháp) là Giám đốc đài thiên văn Phù Liễn hưng công vạn bạc sửa chùa nên có thêm kiến trúc thời Nguyễn. Năm 2004 hoà thượng Thích Quảng Mẫn dùng tiền của thập phương đảo ngói, tô tượng, lát nền... tôn thêm vẻ đẹp của chùa.

Diện tích khuôn viên chùa khoảng 150 x 150 m, trước cửa chùa là đầm rộng hàng nghìn mẫu, vết của sông bị bồi. Là một danh thắng của xứ Đông về kiến trúc và phong thuỷ, được người từ xưa đến nay ca ngợi. Nên năm 2007 chính quyền đương đại công nhận là: "Di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia".


Chùa được dựng bằng vật liệu tốt mới trùng tu năm 2005, thế mà ni cô Trang định phá chùa Trà để xây mới:




Định phá chùa Trà - Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, để xây chùa mới nhằm mục đích gì ta chưa rõ, hay ni cô Trang sẽ tự lập bia để ghi công mình, không hiểu ni cô này có bệnh về tâm thần không? 

Tín đồ đưa tin: ni này nhiều tiền lắm, nên tranh thủ để hút về chùa ta, lạ nhỉ ni này có kinh doanh hay vớ được tiền, của đâu mà lắm tiền? thế mới biết ở Ta dân gian cứ gian mọi thứ, quan Ta cứ tham mọi thứ, không hoạt động kinh doanh, không được thừa kế, không đào được của mà giàu ấy là quan tham, sư giàu là thu của tam bảo chớ nhận là của mình, tự ý dùng tiền ấy làm theo ý mình.


 Tín đồ nói tiền của ni cô Trang, ấy là không đúng, tiền ấy là của tín đồ tụ lại dùng cho việc Đạo và phải đúng Đạo, nay ni cô này muốn theo Trầm Bê, cậy có tiền tạc tượng mình trong chánh điện chùa Phnô-đung (Giồng Lớn) tọa lạc tại xã Đại An (huyện Trà Cú).

chua ong Tram Be 2.jpg

Tiền của Trầm Bê tạm gọi là tiền riêng, còn nc Trang có tiền chắc là của Tam Bảo vì nc này có buôn bán... gì đâu?


Thích danh thì làm người mẫu, các loại sĩ (ca, nghệ, tiến...), muốn giàu thì  buôn, cướp ngày, cướp đêm... chớ lợi dụng Đạo mà giàu, mà dụng bừa là nguy.

Lòng người buồn vì thời thế lại buồn thêm vì có những kẻ lợi dụng Đạo Phật để làm càn, tư lợi cá nhân, trái với Phật pháp. Chắc chắn họ sẽ bị trừng phạt về hành động phản Đạo của họ, để làm gương cho kẻ khác. 


Tiền là kết tinh thành quả lao động của tín đồ, là phương tiện để tín đồ có thêm duyên tiếp cận tư tưởng của Phật là: Tứ diệu đế, hiểu được Bát chính đạo để đến Niết-bàn ...


Khiến con người không bị trói buộc vào trong luân hồi.
Nam mô a di đà Phật!
 
Trước hết ni cô Trang xây tường đá cao khoảng 2,5 m để vây chùa như nhà giam ở 125 Nguyễn Đức Cảnh, Hải Phòng, để không ai biết bên trong ni cô này làm gì, rồi phá chùa cổ chăng?:


Hàng cây thân thiện từ ngàn xưa còn chút đây, liệu tay Trang có làm thịt để đá hóa, tý sư này gọi cán bộ UBND là thằng, sao nó có thể lộng quyền vậy, vì sao? câu hỏi dân làng Trà râm ran bàn. ( Ghi lại lời bà của Dân)


Có chùa nào ở thế gian này bị vây như thế này

Còn đây tường bao chùa Khmer thân thiện với con người




Dinh Độc Lập một thời là cơ quan công quyền cao nhất cũng không có tường rào như Trang xây vây chùa Trà Phương.
Dinh Độc Lập (Photo by HG Waite 1967-68)
Liệu ni cô Trang có bệnh về tâm thần, hay giả tâm thần để phá thuần phong mỹ tục ở Ta, như tiến hòn đá lạ ở đến các vua Hùng?

14 thg 3, 2013

TIỀN LẺ VÀ LIÊM SỈ


Dân Bắc dùng tiền lẻ thả xuống suối, giếng… đặt la liệt ở các ban thờ, gài cả lên các khe đá, thậm chí nhét vào miệng tượng Phật, Thánh…
Nhiều người đi lễ quăng những đồng tiền lẻ vào khu vực thờ như đương nhiên phải làm.
Hiện tượng trên, không những gây phản cảm mà còn dẫn tới nhiều bất tiện khác như ban quản lý di tích,… phải thu nhặt tiền lẻ bị vãi tứ tung, bị người dẫm đạp, bị nhàu nát, bẩn thỉu, ướt... phải rũ sạch, vuốt thẳng... mới có thể cho người cửa đền.... quay vòng với khách hoặc gửi, đổi tiền chẵn tại ngân hàng.

Tiền mang mệnh giá này cho trẻ con có thể bị chúng ném đá hoặc nhìn người cho như kẻ kiệt sỉ nhất thế gian… thế mà biếu Thánh, nếu Thánh nhân từ cho qua, Thánh kiêu coi chừng tín chủ gặp hạn, vì trẻ con còn không dùng?
Nếu các nhà quản lý, nhà chùa, nhà thánh … đồng tình xóa cảnh trên liệu có được?
Mối lợi này được bao nhiêu tiền trong một ngày, một tháng …?
Trong tâm thức người Việt, việc dâng tiền thật là “giọt dầu”, công đức, nén hương, là hy vọng cầu may. Việc làm này nên thể hiện trang trọng và có văn hóa, chứ không thể để như hiện nay.
 Khách quốc tế họ nghĩ gì về hiện tượng trên, có nhà báo viết: Hiện tượng này có nguồn gốc sâu xa từ quan niệm tín ngưỡng nên không thể cấm đoán mà chỉ có thể trông chờ ở ý thức của người dân. Có thể ông này bịthiểu năngchăng?

Tôi tin rằng chúng ta có thừa khả năng dẹp hiện tựơng trên dù nó đang đà bùng phát ở Ta nhất là ở phía Bắc, dẹp được sẽ đem lại vẻ đẹp cho Ta trong con mắt của thế giới văn minh, nếu không dẹp được thì cơ quan quản lý nhà nước về món này, nên xóa đi cho đỡ tốn tiền Dân?

28 thg 11, 2012

ĐẠO PHẬT CÓ PHẢI LÀ MỘT TÔN GIÁO?


Tạp chí Xưa & Nay Số 415 tháng 11/2012
YẾU TỐ NIỀM TIN VÀO THỰC THỂ TÂM LINH(TYLOR 1871) HAY CÁC YẾU TỐ GIÁO HỘI VÀ GIÁO LÝ (ĐẶNG NGHIÊM VẠN 2001) TRONG ĐỊNH NGHĨA VỀ TÔN GIÁO LẠI DƯỜNG NHƯ KHÔNG PHẢI LÀ NHỮNG YẾU TỐ QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO. KHÔNG CHỈ LÀ TƯ LIỆU THỰC ĐỊA GÓP PHẦN XEM XÉT LẠI CÁC ĐỊNH NGHĨA VỀ TÔN GIÁO CỦA PHƯƠNG TÂY CHỊU ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN THỐNG NGHIÊN CỨU KITÔ GIÁO, THỰC HÀNH PHẬT GIÁO CÒN GÓP PHẦN ĐƯA RA MỘT CÁCH NHÌN MỚI TRONG ĐỊNH NGHĨA VỀ TÔN GIÁO (KEYES 2006) (1). XƯA NAY XIN GIỚI THIỆU BÀI VIẾT CỦA MỘT NGƯỜI TRONG CUỘC VỀ VẤN ĐỀ NÀY. THƯỢNG TOẠ THÍCH HUỆ ĐĂNG HIỆN LÀ ỦY VIÊN BAN HOẰNG PHÁP TRUNG ƯƠNG VÀ LÀ GIẢNG VIÊN HỌC VIỆN PHẬT GIÁO HÀ NỘI.
Câu hỏi này ở đầu cửa miệng của nhiều người, nhất là nhửng người Mác xít mà tôi được quen biết. Tôi nghĩ rằng câu trả lời có hay không, phải hay không phải, tuỳ thuộc vào vấn đề chúng ta hiểu từ ngữ “tôn giáo”, một từ ngữ gốc Phương Tây (reli­gion),như thế nào?
Nếu định nghĩa tôn giáo, tức đạo, là con đường dẫn tới chân lý và giác ngộ và giải thoát, thì đạo Phật một đạo giác ngộ và giải thoát đúng là một tôn giáo. Vì bản thân Phật pháp đã từng được đức Phật ví như cái bè dùng để qua sông, hay ngón tay chỉ mặt trăng, nghĩa là như một phương tiện, chứ không phải là một cứu cánh, thì đạo Phật đúng là một tôn giáo như vậy. Khác với giáo chủ của các tôn giáo khác, Đức Phật không bao giờ tự gán cho mình quy chế Thượng đế, con Thượng đế, hay là phái viên của Thượng đế. Phật tự xem mình là “vị thầy chỉ bày con đường” (Margadata), tức là con đường Bát chánh đạo đã dẫn tới giác ngộ và giải thoát, con đường đoạn trừ mọi khổ đau.
Đạo Phật xa lạ với mọi ý niệm vê một Thượng Đế cá nhân đẩy quyền năng vô hạn. Đức Phật đến với loài người như một Con Người giản dị nhưng hoàn thiện, một con người đã được giác ngộ và giải thoát, và chỉ bày cho con người con đường giác ngộ và giải thoát. Cũng vì đức Phật không tự cho mình một quy chế Thượng đế hay một thần linh tôi thượng, cho nên các tôn giáo thần quyền thường đánh giá đạo Phật là đạo vô thần(atheistic). Phật thường khuyên bảo học trò không nên tin lời Phật vì lòng kính trọng đối với Ngài, mà vì lời dạy của Phật đúng đắn, dẫn con người đến giác ngộ và giải thoát. Lời dạy của Phật không được xem như giáo điều, tuyệt đối phải tin tưởng. Lời dạy của Phật phải được chúng ta kiểm nghiệm qua cuộc sông thực tiễn như là người thợ vàng thử vàng vậy. Phật thường dạy học trò rằng một điều dù đúng hay sai không phải là do quyền uy của vị đạo sư nói ra, hay được ghi trong sách thánh như là thần khải. Đối với Phật, quyền uy và thần khải không phải là tiêu chuẩn của chân lý. Đối với đạo Phật tiêu chuẩn của chân lý là lý trí và sự kiểm nghiệm của cuộc sống. Khẳng định như vậy để nói rằng đạo Phật không phải là một tôn giáo, nếu tôn giáo nghĩa là chấp nhận giáo điều, là tự biện thần học, gọi là để tìm ra chân lý trong từng câu từng chữ của sách thánh, là niềm lo sợ đối với cái thiêng liêng và siêu nhiên, là sự gửi gắm cả cuộc đời mình cho thần linh hay Thượng đế… Nếu tôn giáo là như vậy, thì đạo Phật sẽ không Phải là tôn giáo, mà đúng hơn là một hệ thông triết lý và đạo đức dẫn con người tới cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ.
Nhưng nếu tôn giáo là một cái gì đó tạo cảm hứng cho con người hướng tới một cuộc sống tốt đẹp nhất, cao cả nhất, thúc đẩy con người tự hoàn thiện mình bằng một nỗ lực đạo đức không ngừng, nếu tôn giáo nâng bổng con người, vượt lên những nhu cầu vật chất tầm thường của cuộc sống, thì đạo Phật là tôn giáo như vậy. Mà lạ lùng thay, một tôn giáo như đạo Phật, không công nhận có linh hồn bất tử, cũng không công nhận có thượng đế tạo thế, ấy thế mà từ khi ra đời ở Ấn Độ cách đây hơn 2.500 năm, nó đã làm chấn động tận gốc rễ xã hội đẳng cấp lâu đời, buộc tất cả mọi tôn giáo và triết phái truyền thông phải xét lại cơ sở giáo lý của mình. Và sau khi nó vượt qua biên giới, nó trở thành một tôn giáo thế giới, nó đã chinh phục trái tim và khối óc của hàng triệu người. Ngày nay cũng vậy trong khi các tôn giáo truyền thông và thần quyền đang chịu đựng những thử thách lớn, đối diện với tiến bộ của khoa học như vũ bão, thì đạo Phật vẫn đứng vững như bàn thạch. Đạo Phật mở con đường du nhập của mình vào ngay trong lòng những nước đứng đầu trên thế giới về khoa học và công nghệ, như Mỹ, Anh, Pháp, Đức,…
Không phải vì là Phật tử mà chúng ta ca ngợi đạo Phật. Chính các nhà khoa học lớn, có tiếng tăm ca ngợi đạo Phật. Có thể trích ra đây lời nhận xét của nhà bác học Albert Einstein đối với đạo Phật: “Tôn giáo trong tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ, nó phải siêu việt hơn một Thượng đế cá nhân, tránh giáo điều và thần học; bao quát cả hai mặt tự nhiên và tâm linh. Nó phải dựa trên một ý thức tôn giáo nảy sinh từ sự thực nghiệm của mọi sự vật, tự nhiên và tâm linh, được quan niệm như một thể thống nhất có ý nghĩa. Phật giáo đáp ứng một mô tả như vậy. Nếu có một tôn giáo thỏa mãn được yêu cầu của khoa học hiện đại, thì tôn giáo đó là đạo Phật”(2). Để chứng minh nhận xét của tôi về sự thành công của đạo Phật tại các nước công nghiệp phương Tây, cho phép tôi đưa ra một trích dẫn nữa, lần này là của một nhà nghiên cứu tôn giáo người Pháp trong một bài đăng trong một đặc san nghiên cứu các tôn giáo của tờ Thế giới ngoại giao số tháng 11 và 12/1999: “Phật giáo chủ yếu là tôn giáo hiện đại: dành cho cá nhân, không giáo điều đạo đức, kết hợp thân với tâm. Phật giáo có tất cả cơ may để phát triển ở phương Tây, vì nó không đề xuất một sự cứu rỗi, xuất phát từ một thần linh bên ngoài, mà là một phương pháp thực tiễn để thoát khỏi đau khổ và đạt tới hạnh phúc, ngay tại thế giới này”(3).
Phật giáo không có một tổ chức tăng đoàn chặt chẽ, theo kiểu các tôn giáo thần quyền phương Tây. Vì sao? Vì tinh thần dân chủ và bình đẳng trong đạo Phật không cho phép có một tổ chức chặt chẽ như vậy. Không phải trong thòi kỳ Phật giáo bộ phái ở Ấn Độ, mà ngay cả ở Trung Hoa, Nhật Bản, tổ chức Phật giáo vẫn bao gồm nhiều giáo phái và hệ phái khác nhau, với những chùa chiền, tu viện, và thiết chế giáo dục, của riêng các giáo phái và hệ phái đó. Ở Việt Nam tuy có một giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập năm 1981, thế nhưng hiến chương của giáo hội tôn trọng sự tồn tại trong phạm vi giáo hội của những giáo phái và hệ phái khác nhau, như Phật giáo Nam tông, hệ phái Khất sĩ, Phật giáo Khơ-me,…
Ngày xưa, khi Thiên Chúa giáo mới bắt đầu vào nước ta, có sự phân biệt đồng bào giáo và lương. Đồng bào giáo chỉ cho tất cả đồng bào theo tôn giáo mới, tức Thiên Chúa giáo, còn đồng bào lương chỉ cho tất cả đồng bào theo các đạo Phật, Nho, Lão hay bất cứ một tín ngưỡng bản địa nào khác. Vì sao vậy? Phải chăng người Việt Nam cũng như người Á Đông nói chung không có một quan niệm về tồn giáo chặt chẽ về mặt tổ chức như đạo Thiên chúa. Một người Trung Hoa, Nhật Bản hay người Việt Nam có thể theo cả ba đạo Phật, Nho, Lão và cả đạo ông bà nữa mà trong lương tâm họ không bị chi phối về mặt tâm lý bởi những bài thuyết giảng kiểu như những bài thuyết giảng của các bậc tiên tri đạo Do Thái. Những bài thuyết giảng này chống lại mọi biểu hiện của tà giáo và tà đạo, khi các bộ tộc Do Thái từ kiểu sống du mục chuyển thành những bộ tộc định cư và sản xuất nông nghiệp, sau khi vương quốc Israen đầu tiên được thành lập, với các vua David, rồi Solomon, như đã được ghi chép trong sách Cựu ước.
Người Á Đông dù là ở Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản hay Việt Nam, chấp nhận tín ngưỡng đa thần giáo một cách tự nhiên, thông thoáng, có thể vì vậy mà họ cũng không có tư tưởng kỳ thị tôn giáo. Tôn giáo nào cũng cung cấp một câu trả lời mà tín đồ tin là thỏa đáng đối với ý nghĩa của nhân sinh, của cuộc sống. Niềm tin của tín đồ có thể nông hay sâu, liên tục hay ngắt quãng, nhưng niềm tin đó phải có, thì mới có tôn giáo, bởi lẽ niềm tin tôn giáo là động lực khiến tín đồ sống cả đời theo niềm tin đó. Điều đặc sắc của đạo Phật là sự kết hợp niềm tin với lý trí hay trí tuệ, hiểu biết càng sâu thì niềm tin tôn giáo càng vững. Còn tổ chức của giáo hội có chặt chẽ hay lõng lẻo, cũng không thành vấn đề. Thậm chí, có những tín đồ của Phật giáo, Thiên Chúa giáo hay một tôn giáo nào khác, rất có thể không đi chùa, không đến nhà thờ, không chấp hành những nghi lễ nào đó do giáo hội quy định, nhưng họ vẫn là tín đồ tôn giáo theo đúng đòi hỏi lương tâm họ.
Đức Phật thường dạy học trò mình rằng: “Không nên chấp nhận những lời dạy của Ta do lòng kính trọng, mà trước hết hãy kiểm nghiệm những lời dạy đó, như dùng lửa thử vàng vậy”. Phật dạy: “Một điều là đúng hay sai, không phải là quyền uy và thần khải”. Phật ví những tín đồ như một đoàn người mù, dẫn dắt nhau đi, người đi đầu không thấy gì hết, người đi cuòi cũng không thấy gì hết. Phật cho rằng chấp nhận chân lý và giác ngộ chân lý là hai chuyện khác nhau. Giác ngộ chân lý như người nếm mật, còn chấp nhận chân lý là không hiểu, thì cũng giống như người dùng thìa hứng mật, múc mật mà không nếm mật vậy.
Cũng như thế, đơn thuần chấp nhận chân lý do quyền uy của người khác, dù người khác đó là bậc đạo sư, sẽ không có được sự giác ngộ tâm -linh, dẫn tới giải thoát tối hậu. Tuân thủ một truyền thống hay quyền uy, tự nó không có giá trị gì hết. Để được giác ngộ, học hỏi là cần thiết, nhưng sự học hỏi đó cần được bổ sung bằng thực nghiệm cá nhân. Tôn giáo luôn luôn là thực nghiệm qua cuộc sống như là vị thầy thuốc tốt nhất, qua thân tâm của mình như là cuon sách quý nhất. Phật giáo là như vậy.
CHÚ THÍCH:
1. Tylor, Edward B. 1871, Primi­tive Culture (Văn hóa nguyên thủy). London: John Murray; Đặng Nghiêm Vạn, 2001, Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Hà Nội, Nxb. Chính trị Quốc gia; Keyes, Charles F. 2006. “Dẫn luận: Sự thăng trầm của nghiên cứu nhân học về tôn giáo” trong Những vấn đề nhân học tôn giáo. Đào Thế Đức dịch; Nguyễn Văn Chính hiệu đính, Đà Nẵng, Hội KHLSVN, Nxb. Đà Nẵng, tr 7-27.
2. Phra Sripariyattimoli, 1999, The Buddha in the Eyes of Eminent Scholars (Đức Phật trong con mắt của các học giả uyên bác), Mahachu- lalongkorn BuddhistUniversity
3. Frederic Lenoir, 1999, Monde diplomatique, Novembre-Decembre.
  1. LeQuocTrinh đã nói

    Đạo Phật có phải là một tôn giáo hay không ?
    Tôi đã từng đề cập đến chủ đề này trong trang AnhBaSam từ hơn ba tháng trước, AnhBa cũng có ý định mở một Blog nhỏ cho tôi trình bày cặn kẽ đề tài này, nhưng sau đó thì AnhBa gặp khó khăn nội bộ cho nên tôi đành tạm gác chuyện này lại.
    Nay lại thấy xuất hiện trong VIỆT SỬ KÝ do tác giả là một nhà tu hành có chức danh trong Phật Giáo VN, mang hai ý nghĩa: lịch sử và tôn giáo. Tác giả mở đầu bằng một nhận định sơ khởi:
    …”Nếu định nghĩa tôn giáo, tức đạo, là con đường dẫn tới chân lý và giác ngộ và giải thoát, thì đạo Phật một đạo giác ngộ và giải thoát đúng là một tôn giáo. Vì bản thân Phật pháp đã từng được đức Phật ví như cái bè dùng để qua sông, hay ngón tay chỉ mặt trăng, nghĩa là như một phương tiện, chứ không phải là một cứu cánh, thì đạo Phật đúng là một tôn giáo như vậy”…
    Theo tôi nghĩ, nhận xét này có vẻ hời hợt và chưa cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa Đạo Phật và những tông giáo khác, không giải thích được tại sao các nhà bác họ nổi tiếng đương thời thán phục Đạo Phật. Tất cả chỉ nằm ở nhận thức căn bản của Đạo Phật:
    - Phật là gì ?
    - Giác ngộ nghĩa là gì ?
    Không nắm bắt ý nghĩa Đạo Phật là đạo của trí tuệ thì sẽ luôn luôn bị rơi vào trạng thái siêu hình, thần thánh hoá Đạo Phật và đi vào con đường mê tín dị đoan, đó chính là tình trạng “mạt pháp” mà bác Nhật Lệ tự hỏi khi quan sát những hiện tượng tha hoá của các tông phái Tịnh Độ Tông, Mật Tông, Thiền Tông, Nguyên Thuỷ.
    Tôi chỉ xin vắt tắt rằng Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni là con người thật bằng xương bằng thịt như chúng ta, Ngài chỉ để lại một thông điệp ngắn rõ ràng rằng:
    - Tất cả chúng ta, con người là động vật duy nhất có trí khôn, biết tư duy, tại sao không biêt động não để tìm ra chân lý sự vật trong vũ trụ tạo hoá mà lại tự giam mình trong bóng tối vô minh nhắm mắt tin xằng bậy vào những giáo điều mê hoặc để bị dẫn dắt vào con đường tội lỗi, gây biết bao thống khổ trong lịch sử nhân loại ?
    Đức Phật Thích Ca là người đã Giác Ngộ nhiều chân lý cơ bản của vũ trụ, nhưng Ngài chưa thể chứng minh được ở thời điểm cách đây hơn 2500 năm. Tuy nhiên Ngài nói đúng: “Chúng sinh sẽ thành Phật”, sẽ mang trọng trách chứng thực những chân lý do Ngài khám phá ra. Đó chính là khoa học vậy.
    Lê Quốc Trinh, Canada

  2. D.Nhật Lệ đã nói

    Theo thiển ý tôi,đạo Phật thực sự không phải là một tôn giáo mà là một khoa học,chính xác hơn
    nữa là một triết lý uyên thâm.Đạo ở đây là con đường thì đúng nhất.
    Đức Phật đã chỉ ra cho chúng sinh con đường tu thân tích đức cho mỗi cá nhân.Chính Đức Phật
    cũng bác bỏ việc tôn thờ mình khi nói hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi hay đừng tin bất cứ ai,kể
    cả giáo chủ hay bậc đạo cao đức trọng và mỗi người là Phật sẽ thành.
    Thế nhưng,không hiểu vì sao đạo Phật lại trở thành tôn giáo tôn thờ Phật như Thượng Đế toàn
    năng toàn trí,có đủ mọi phép mầu để làm bất cứ cái gì nếu chúng sinh kêu cứu ?
    Điều này may ra chỉ có người nghiên cứu uyên bác Phật học mới có khả năng lý giải !

10 thg 8, 2012

CHUYỆN ĐẠO - CHUYỆN ĐỜI VÀ THÌ TƯƠNG LAI (kì 2)



12:27 9 thg 4 2012Công khai229 Lượt xem0

Những động tác cực mạnh, chuẩn xác, con gà không quoác lên được tiếng nào. Bẻ chéo cánh, đạp giữ 2 chân, vật ngược cổ nhoáy nhóay nhổ lông chuẩn bị cắt tiết. Mình bỏ  thau rau sống đang rửa đi nhanh vào trong.
Cũng chả cảnh vẻ gì, càng không phải lần đầu thấy giết gà, chỉ bởi cảnh ấy diễn ra ngay trong chùa. Một ngôi chùa lọt giữa thảm hoa vàng bát ngát những ngày cuối xuân trong ngăn ngắt. Bữa ấy, mình ăn cùng họa sĩ Phan Cẩm Thượng, ông thường trú trong chùa. Suốt bữa cứ dợn lên từng đợt như ăn phải gián.
Chùa nhỏ quận Thủ Đức, thanh bình, có vườn rộng cây to. Thi thoảng mình ôm cuốn sách chui vô ngồi bệt dưới gốc cây đọc.
Thầy ngồi xếp bằng, tĩnh tại và đang đọc sách, ngay trước chính điện.
Mình kính cẩn  bạch thầy, thầy đọc cuốn gì thế ạThầy nghiêng người, ghé sát tai, chuyện tình em ạ.
Cho đến giờ vẫn cứ tiếc, mất một chỗ trốn việc thảnh thơi ngồi.
Sư bác. Trụ trì ngôi chùa nhỏ mà người mê tín tính linh thiêng hẳn không thể không biết, ở Bắc Ninh. Mình đàn bà mà còn nhìn sư bác không chán mắt. Mũi thẳng môi nét trán cao lông mày tỉa cánh cung cong vòng. Chùa đang tu sửa. Tay chủ thầu rỗ nhằng. Lão í nhà mình nói tỉnh queo, người thế mà theo thằng mặt rỗ phí quá. Mình nghiến kèn kẹt. Chưa đầy tháng sau hóa ra lão í đúng,  sư bỏ đi làm bé tay mặt rỗ khi xà bần còn ngổn ngang trong chùa.
Thằng em, nhà đối diện chùa Vĩnh nghiêm, chúa báng bổ sư sãi. Lần nào mình cũng tìm cách tránh trớ át giọng nó đi. Nó cay cú nhưng mình vai chị, nên nó phải im.
Lần kia, bỗng dưng nó phone, bà sang gấp. Chuyện gì. Tôi gặp tai nạn.
Mình phi sang. Chả nạn tai gì sất. Nó cười hô hố, mình sượng trân. Nó đang nhậu rượu thịt chó với 2 nhà sư, mặc nguyên đồ nhà chùa.
Dăm năm trở lại đây, chùa chiền, nhất là phía bắc được tu bổ khá khang trang đẹp đẽ. Và, điều mà năm bẩy năm trước hiếm thấy, thì bây giờ rất thịnh là sư trụ trì đi cúng nhập trạch, cúng hô thần nhập tượng, thậm chí cúng… cất nóc cho tư gia các nhà giàu có.
Đang đọc các tư liệu về lịch sử giáo hội Phật giáo và mình vỡ ra nguyên do (phi chính trị) mà thầy Huyền Quang (giờ là thầy  Quảng Độ) tách ra lập Giáo hội Việt nam thống nhất. Khi lễ lạt át phần tu tập, khi giới luật bị coi nhẹ hơn phần cơi nới mở mang, tức là đã đến lúc, ngôi nhà Giáo hội mang dấu hiệu rạn nát, từ nền móng.

Beo's Blog

6 thg 8, 2012

NHÀ SƯ XƯA VÀ NAY

 XƯA:
Nhà sư tham gia chính trị
Ông họ Nguyễn, quê châu Cổ Pháp (nay thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), từ thuở nhỏ đã thông minh, học thông Nho, Lão, Phật và nghiên cứu hàng trăm bộ luận Phật giáo. Năm 21 tuổi ông xuất gia, tu học với bạn là thiền sư Ðịnh Tuệ dưới sự chỉ dẫn của thiền sư Thiền Ông tại chùa Lục Tổ. Sau khi Thiền Ông mất, ông bắt đầu chuyên thực tập Tổng Trì Tam Ma Ðịa, nên sau này hễ ông nói lời gì đều được thiên hạ cho là phù sấm. Vua Lê Ðại Hành rất tôn kính ông. Năm 980, Hầu Nhân Bảo của nhà Tống mang quân sang đóng ở núi Cương Giáp Lãng định xâm chiếm nước Đại Cồ Việt, vua triệu ông vào hỏi nếu đánh thì thắng hay bại. Ông đáp trong vòng từ ba đến bảy ngày giặc sẽ rút lui. Lời này sau ứng nghiệm. Khi vua Lê Ðại Hành muốn can thiệp vào Chiêm Thành để cứu sứ giả bị Chiêm Thành bắt giữ nhưng còn do dự, thì Vạn Hạnh nói đây là cơ hội đừng để mất. Sau đó lời này nghiệm, và trận ấy quân Lê thành công. 
Trong cuộc vận động Lý Công Uẩn lên ngôi, ông đã tác động dư luận quần chúng bằng sấm truyền rất hữu hiệu. Sách Thuyền Uyển Tập Anh nói những loại sấm truyền và tiên tri ông dùng có rất nhiều thứ không kể hết được. Sách này kể ra một vài phương pháp đã dùng: Hồi Lê Ngọa Triều đang thi hành chính sách bạo ngược bị thiên hạ ghét bỏ, thì tại Cổ Pháp có một con chó trắng xuất hiện trên lưng nó có hai chữ “thiên tử” lấm tấm bằng lông đen. Thiên hạ bèn đồn rằng con chó là tượng trưng cho năm Tuất, và một bậc thiên tử sẽ sinh vào năm Tuất sẽ xuất hiện cũng vào năm Tuất (tức năm 1010).
NAY:
Nhà sư tòng quân
Trước đây, nhắc đến chùa Cổ Lễ (Trực Ninh-Nam Định) mọi người sẽ nghĩ ngay tới một ngôi chùa cổ kính với những lễ hội lớn hay một chiếc chuông khổng lồ. Nhưng ít ai biết được rằng, cũng chính tại ngôi chùa này đã có 27 nhà sư đã cởi áo cà sa để mặc quân phục “Bộ đội Cụ Hồ”, lên đường bảo vệ Tổ quốc.
Ghé thăm chùa Cổ Lễ vào một ngày đầu đông, nhưng lòng tôi lại có một cái cảm giác ấm áp lạ thường. Ngôi chùa ngự trên một nơi được bao quanh là những cánh đồng thẳng cánh cò bay. Nghe các nhà sư kể lại, tôi vô cùng ngạc nhiên khi biết, chính tại ngôi chùa này, 27 nhà sư đã cởi áo cà sa để lên đường bảo vệ Tổ quốc. Tháng 8-1946, giặc Pháp tràn vào đánh chiếm Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định... với dã tâm tái chiếm nước ta. Cuối năm 1946, Bác Hồ ra lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến”. Hưởng ứng lời kêu gọi, Hòa thượng Thích Thế Long, trụ trì chùa Cổ Lễ đã cho gọi các vị tăng ni, phật tử trong chùa lên họp bàn đưa ra ý kiến. Trong cuộc họp, mọi người thống nhất sẽ làm lễ “giải pháp y”, thành lập đội quân “nghĩa sĩ phật tử”, cho phép các tăng ni tạm rời cửa thiền ra chiến trường đánh giặc cứu nước.
Ngày 27-2-1947, chùa Cổ Lễ rợp bóng cờ hoa, biểu ngữ, hàng nghìn đồng bào các giới, tín đồ thập phương đổ về. Đại đức Thích Trí Không thay mặt Ban tổ chức tuyên bố lễ phát nguyện. 27 nhà sư cởi áo cà sa, đội mũ gắn sao, khoác ba lô trở thành 27 chiến sĩ Vệ quốc đoàn. Trước ngày lên đường, đội quân này ngày ngày luyện tập võ nghệ, học cách sơ cứu cho thương binh...
QĐND - Thứ Năm, 17/12/2009, 9:0 (GMT+7)

Các nhà sư ra Trường Sa 

Chiều 12/4, 5 nhà sư tự nguyện tiếp quản các chùa ở Trường Sa đã lên đường đến quần đảo này. Dự kiến, Đại đức Thích Thánh Thành cùng Thượng tọa Thích Tâm Hiện (hiện tu tại chùa Tân Long, Diên Khánh, Khánh Hòa) tiếp quản chùa ở đảo Song Tử Tây. Đại đức Thích Giác Nghĩa, trụ trì chùa Vạn Đức và chùa Phước Trí (Vĩnh Phương, TP Nha Trang) cùng Đại đức Thích Ngộ Thành tiếp quản chùa ở đảo Trường Sa Lớn. Đại đức Thích Đạo Biện, trụ trì chùa Long Thọ và Đại đức Thích Đức Hỷ trụ trì chùa Hưng Long (thị xã Ninh Hòa) tiếp quản chùa ở đảo Sinh Tồn.

Nhà sư trẻ chịu oan
Nhà sư trẻ nựng nịu hôn lên má “con” trước bao cặp mắt gièm pha. Có người xỉ vả “sư hổ mang” tằng tịu trai gái mà còn trơ mặt đem con về chùa. Nhiều người đã muốn đuổi sư ra khỏi chùa. Nhưng sư vẫn lặng lẽ chịu khổ nhục cưu mang “con”... Đó là một câu chuyện có thật chứ không phải sự tích “Quan Âm Thị Kính”.
Một đêm tháng 1-2008. Trời se sắt lạnh. Chùa Thanh Tâm (xã Tân Tiến, Đồng Phú, Bình Phước) đang trầm mặc lời kinh tụng thì bất ngờ bị ngắt ngang bởi tiếng khóc oe oe của trẻ thơ. Sư thầy Phạm Minh Tâm (pháp danh Thích Chiếu Pháp) cùng mấy chú tiểu vội vã chạy ra và bất ngờ nhìn thấy một bé trai sơ sinh nằm trên cái nia bên hiên nhà thuốc nam của chùa. Vừa được thầy Tâm bế vào lòng, bé liền ngừng khóc. Lúc đó hơn 21g, trời tối đen như mực. Không ai hay biết chuyện xảy ra trước cổng chùa.
Nhà sư phạm pháp
Anh Quang biết sức khỏe của vợ yếu nên đã đóng cửa phòng và theo đoàn phật tử ra ngoài. Khi anh đi được chừng 15 phút, sư Thắng bước vào. Ông này hỏi thăm chị Phương và ngỏ ý muốn bắt mạch giúp, rồi đi lấy máy đo nhịp tim, luồn tay vào áo chị Phương để... kiểm tra sức khỏe cho chị.
"Vì nghĩ sư Thắng là người tu hành, có lòng tốt khám bệnh giúp người nghèo nên tôi chẳng nghĩ ngợi gì. Nhưng khi sư Thắng sờ soạng ngực mình, tôi giật mình hất tay ông ta ra. Đến lúc này, ông ta bắt đầu bộc lộ bản chất 'sư hổ mang'.
Ông ta tự cởi quần mình, đè tôi xuống và hăm dọa nếu nhúc nhích sẽ gọi thêm người vào đánh. Do đang mang thai, lại bị nghén nên giọng tôi yếu ớt, sức khỏe yếu, không thể phản kháng nổi gã đàn ông khỏe như hổ và cuối cùng hắn đã đạt được mục đích. Xong việc, hắn đắp chăn cho tôi và sau khi ra ngoài, còn nói thêm 'Con nghỉ ngơi nhé'", chị Phương bức xúc kể lại.
Khi sư Thắng đi rồi, chị Phương đã chạy ra tố cáo sự việc với chồng và nhiều người nữa. Chồng chị bán tín bán nghi, còn mọi người thì cho rằng chị Phương bị điên. Chẳng ai nghĩ rằng sư thầy lại đi làm chuyện đó. Mãi sau, anh Quang mới đồng ý đưa vợ đi trình báo công an.
Đến chiều tối cùng ngày, anh Quang nhận được tin nhắn từ sư Thắng với nội dung van nài anh đừng làm to chuyện. Một số người trong Tịnh xá Ngọc Yên cũng đến nhà đề nghị anh Quang rút đơn tố cáo, yêu cầu được bồi thường tiền, và mong nạn nhân không làm lớn chuyện.
"Tôi đã từ chối bởi mình tuy nghèo nhưng không thể nào vì đồng tiền mà chịu nhục. Con cái tôi sau này biết chuyện sẽ coi thường cha mẹ nó", anh Quang cho biết.
Chiều ngày 3/8, Công an tỉnh Gia Lai đã xác nhận sự việc vợ chồng anh Quang, chị Phương tố cáo là đúng. Sư Thắng đã bị bắt và thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Cơ quan công an đã khởi tố vụ án.
Tên nhân vật đã được thay đổi- Theo Tùy Phong.
Phật giáo 
Phật giáo (zh. 佛教, sa. buddhaśāsana, pi. buddhasāsāna, bo. sangs rgyas bstan pa, hay giáo lý của Phật-đà (śāsana), là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới (các tôn giáo lớn khác là Do Thái giáo, Ki-tô giáo  Hồi giáo, và Ấn Độ giáo). Phật giáo được một nhân vật lịch sử là Tất-đạt-đa Cồ-đàm (zh. 悉達多瞿曇, sa.siddhārtha gautama, pi. siddhattha gotama) sáng lập khoảng thế kỉ thứ 5 trước Công nguyên, và Phật-đà hay Bụt-đà (sa., pi. buddha), người Việt gọi đơn giản là Phật, có nghĩa là "người tỉnh thức", "người giác ngộ", danh hiệu mà Ngài có được sau khi thành đạo, giác ngộ. Giáo lý mà Ngài dạy và để lại được gọi là Phật pháp (zh. , sa. dharma, pi. dhamma). Ở một số ngôn ngữ, Phật giáo có nghĩa như "nguyên lí của vạn vật".
Cơ sở tư tưởng của Phật pháp  Tứ diệu đế, là cốt lõi giáo pháp của đạo Phật, và cũng là điều mà Phật đã chứng ngộ lúc đạt đạo. Bốn chân lý này chính là câu trả lời cho câu hỏi của thời đại đó, là: Tại sao con người cứ bị trói buộc trong luân hồi (zh. 輪回, sa., pi.sasāra) và liệu con người có cơ hội thoát khỏi nó hay không.
Tứ diệu đế là:
1.    Khổ đế (zh. 苦諦, sa. dukhāryasatya, bo. sdug bsngal bden pa, chân lý về sự Khổ: Chân lí thứ nhất cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ não, không trọn vẹn. Sinh, lão, bệnh, tử, xa lìa người mình yêu quý, ở gần người mình ghét bỏ, không đạt sở nguyện, là 8 điều khổ. Sâu xa hơn, bản chất của năm nhóm thân tâm, Ngũ uẩn (zh. 五蘊, sa. pañcaskandha, pi. pañcakhandha), là các điều kiện tạo nên cái ta, đều là khổ.
2.    Tập đế (zh. 集諦, sa. samudayāryasatya, bo. kun `byung bden pa , chân lí về sự phát sinh của khổ: Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn, Ái (, sa. tṛṣṇā, pi. ta), tìm sự thoả mãn dục vọng, thoả mãn được trở thành, thoả mãn được hoại diệt. Các loại ham muốn này là gốc của Luân hồi (zh. 輪迴; sa., pi. sasāra).
3.    Diệt đế (zh. 滅諦, sa. dukhanirodhāryasatya, bo. `gog pa`i bden pa, chân lí về diệt khổ: Một khi gốc của mọi tham ái được tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt.
4.    Đạo đế (zh. 道諦, sa. dukhanirodhagāminī pratipad, mārgāryasatya, bo. lam gyi bden pa, chân lí về con đường dẫn đến diệt khổ: Phương pháp để đạt sự diệt khổ là con đường diệt khổ tám nhánh, Bát chính đạo. Không thấu hiểu Tứ diệu đế được gọi là Vô minh (zh. 無明, sa. avidyā, pi. avijjā).
Phật xác nhận ba đặc tướng của cuộc đời là vô thường (zh. 無常, sa. anitya, pi. anicca), vô ngã (zh. 無我, sa. anātman, pi. anattā) và vì vậy mà con người phải chịu khổ (zh. , sa. dukha, pi. dukkha). Nhận thức ba dấu ấn (zh. 三相, sa. trilakaa, pi. tilakkhaa) đặc trưng này của sự vật đồng nghĩa bước đầu đi vào đạo Phật.
Khổ được giải thích là xuất phát từ ái (zh. , sa. tṛṣṇā, pi. ta) và vô minh (zh. 無明, sa. avidyā, pi. avijjā), và một khi dứt được những nguyên nhân đó thì ta có thể thoát khỏi vòng sinh tử (hữu luân 有輪, sa. bhavacakra, pi. bhavacakka). Cơ chế làm cho chúng sinh còn vướng mãi trong vòng sinh tử được đạo Phật giải thích bằng thuyết Duyên khởi (zh. 緣起, sa. pratītyasamutpāda, pi.paiccasamuppāda). Chấm dứt luân hồi, vòng sinh tử đồng nghĩa với việc chứng ngộ Niết-bàn (zh. 涅槃, sa. nirvāa, pi. nibbāna). TheoTứ diệu đế, con đường dẫn đến Niết-bàn là Bát chính đạo (zh. 八正道, sa. aṣṭāgikamārga, pi. aṭṭgikamagga).
Pháp luân-tượng trưng cho giáo pháp của Đức Phật, gồm Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Trung đạo
Bát chính đạo bao gồm:
1. Chính kiến (zh. 正見, pi. sammā-diṭṭhi, sa. samyag-dṛṣṭi, bo. yang dag pa`i lta ba: Gìn giữ một quan niệm xác đáng về Tứ diệu đế và giáo lí vô ngã.
2. Chính tư duy (zh. 正思唯, pi. sammā-sakappa, sa.samyak-sakalpa, bo. yang dag pa`i rtog pa: Suy nghĩ hay có một mục đích đúng đắn, suy xét về ý nghĩa của bốn chân lí một cách không sai lầm.
3. Chính ngữ (zh. 正語, pi. sammā-vācā, sa. samyag-vāk, bo. yang dag pa`i ngag: Không nói dối hay không nói phù phiếm.
4. Chính nghiệp (zh. 正業, pi. sammā-kammanta, sa.samyak-karmānta, bo. yang dag pa`i las kyi mtha`: Tránh phạm giới luật.
5. Chính mệnh (zh. 正命, pi. sammā-ājīva, sa. samyag-ājīva, bo. yang dag pa`i `tsho ba: Tránh các nghề nghiệp liên quan đến sát sinh (giết hại sinh vật) như đồ tể, thợ săn, buôn vũ khí, buôn thuốc phiện.
6. Chính tinh tiến (zh. 正精進, pi. sammā-vāyāma, sa.samyag-vyāyāma, bo. yang dag pa`i rtsal ba: Phát triển nghiệp tốt, diệt trừ nghiệp xấu.
7. Chính niệm (zh. 正念, pi. sammā-sati, sa. samyag-smti, bo. yang dag pa`i dran pa: Tỉnh giác trên ba phương diện Thân, Khẩu, Ý;
8. Chính định (zh. 正定, pi. sammā-samādhi, sa. samyak-samādhi, bo. yang dag pa`i ting nge `dzin: Tập trung tâm ý đạt bốn định xuất thế gian (sa. arūpa-samādhi).
Con đường tám nhánh này có thể được phân thành ba loại, gọi là Tam học, tức là tu học Giới (zh. , sa. śīla, pi. sīla), Định (, sa.samādhi, dhyāna, pi. samādhi, jhāna) và Huệ (zh. , sa. prajñā, pi. paññā). Những tư tưởng cơ bản của Phật-đà đều được nhắc lại trong các kinh sách, nhưng có khi chúng được luận giải nhiều cách khác nhau và vì vậy ngày nay có nhiều trường phái khác nhau, hình thành một hệ thống triết lí hết sức phức tạp.
Giáo pháp đạo Phật được tập hợp trong Tam tạng (zh. 三藏, sa. tripiaka, pi. tipiaka), bao gồm:
1. Kinh tạng (zh. 經藏, sa. sūtra-piaka, pi. sutta-piaka, bo. mdo sde`i sde snod  bao gồm các bài giảng của chính đức Phật hoặc các đại đệ tử. Kinh tạng tiêu biểu văn hệ Pali được chia làm năm bộ: 1. Trường bộ kinh (pi.dīgha-nikāya), 2. Trung bộ kinh (pi. majjhima-nikāya), 3. Tương ưng bộ kinh (pi. sayutta-nikāya), 4. Tăng chi bộ kinh (pi.aguttara-nikāya) và 5. Tiểu bộ kinh (pi. khuddaka-nikāya).
2. Luật tạng (zh. 律藏; sa., pi. vinaya-piaka, bo. `dul ba`i sde snod , chứa đựng lịch sử phát triển của Tăng-già (sa., pi. sagha) cũng như các giới luật của người xuất gia, được xem là tạng sách cổ nhất, ra đời chỉ vài mươi năm sau khi Phật nhập Niết-bàn.
3. Luận tạng (zh. 論藏, sa. abhidharma-piaka, pi. abhidhamma-piaka, bo. mngon pa`i sde snod —cũng được gọi là A-tì-đạt-ma—chứa đựng các quan niệm đạo Phật về triết học  tâm lí học. Luận tạng được hình thành tương đối trễ, có lẽ là sau khi các trường phái đạo Phật tách nhau mà vì vậy, nó không còn giữ tính chất thống nhất.
Tăng-già (zh. 僧伽; s, pi. sagha) của đạo Phật gồm có Tỳ Kheo (zh. 比丘, sa. bhiku, pi. bhikkhu), Tỳ Kheo Ni (zh. 比丘尼, sa. bhikuī, pi. bhikkhunī) và giới Cư sĩ.
Là người vô thần khi nhỏ tin là mình có thể làm được nhiều thứ theo ý mình, lớn mới thấy mình cuồng, mỗi cá thể bị chi phối bởi nhiều yếu tố thiên nhiên và xã hội.
Khoảng 10 tuổi vì học cùng tiểu tôi có sống hơn một năm ở chùa Trà Phương  - nơi thanh tịnh vô cùng, hồn ta muốn hướng theo, nên thấy nhiều kẻ đến cắm nén hương cầu con, cầu giàu, cầu quan, cầu tranh tụng thắng…
Lớn đi chùa nghe thấy sự cầu con, cầu giàu, cầu quan, cầu tranh tụng thắng… nghe còn gớm hơn.
Khi học lỏm một số kinh Phật ngộ ra: Đạo Phật có nghĩa là "người tỉnh thức", "người giác ngộ"đưa chúng vào đường tu thân theo:
 Tư tưởng của Phật pháp  Tứ diệu đế, là cốt lõi giáo pháp của đạo Phật, và cũng là điều mà Phật đã chứng ngộ lúc đạt đạo. Bốn chân lý này chính là câu trả lời cho câu hỏi của thời đại đó, là: Tại sao con người cứ bị trói buộc trong luân hồi (zh. 輪回, sa., pi.sasāra) và liệu con người có cơ hội thoát khỏi nó hay không.
  Pháp luân - tượng trưng cho giáo pháp của Đức Phật, gồm Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Trung đạo.
Chùa nơi thờ Phật, để ta tu thân theo Phật pháp, đâu phải là nơi kẻ tham: đem vài đồng tiền lẻ cho trẻ không dùng hoặc rất nhiều tiền của để cầu giầu, cầu quan…
Thế mà dân, quan cứ cầu, họ không biết đến Tứ diệu đế, Bát chính đạo để tu thân, cứ gây khổ, ác… cho chính mình, cho đồng loại…

 Cho nên sư và chùa ở Ta:
"Chỗ nào cũng hòm công đức, thực chất là một cách moi tiền khách thập phương. Sư sãi chính trị hóa và thế tục hóa lộ liễu, còn dân thường thì vụ lợi theo cách riêng của mình. Thay niềm tin thiêng liêng bằng mê tín, các đám đông trở nên hỗn hào mà nhiều khi lại đá sang cả chất khoe mẽ tân thời.…
    Cái lý do khiến tôi dạo này chán không tính tới chuyện tìm hiểu đạo Phật ở các vùng quanh Hà Nội là vậy.
    Vào miền Nam, thấy có chút khác.
    Ở Côn Đảo đến thăm ngôi chùa mới được xây dựng. Một chị trạc 40-45 kể thầy trụ trì ở đây là ở chùa Vĩnh Nghiêm ra. Thầy bảo chỉ nên lên chùa để nghe kinh và ngẫm chuyện đời chuyện đạo. Chứ ai lên chùa mà chỉ chăm chăm cầu sao buôn may bán đắt và thăng quan tiến chức thì đừng có lên.
     Tưởng rằng chỉ Côn Đảo là nơi thoát khỏi cái sôi động của đời sống hiện đại mới có những ngôi chùa như vậy, hóa ra nhiều chùa khác ở chung quanh Sài Gòn tôi cũng gặp tình hình tương tự.
      Người dẫn tôi đến chùa Hoằng Pháp ở Hóc Môn kể chính vì nhờ lên chùa mà chị tìm thấy sự yên ổn trong tâm linh và sự hòa hợp ngay trong cuộc sống gia đình. Hiệu sách trong chùa khá đông khách, ở đây tìm được nhiều loại băng đĩa và sách vở cần thiết. Tôi được chị bạn mua tặng một loạt sách và đĩa.
Thường nghe nói tôn giáo ở VN nhiều khi là một thứ niềm tin không giáo lý. Ở nhiều chùa miền nam, tôi gặp những cố gắng vượt thoát khỏi tình cảnh đó.
Cũng bàn về tôn giáo của người Việt, dưới đây là một đoạn văn của L. Dutreuil de Rhins trong Nghiên cứu Huế tập tám, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Châu Phan mới cho in quý I năm nay. Tôi đọc và thấy tự tin với những ý nghĩ vừa trình bày ở trên của mình. Đoạn văn như sau.
       Cùng với Phật, [người An Nam] sùng bái vô số thánh thần. Mỗi gia đình sùng bái riêng nhiều vị các vị này sẽ  phù hộ cho gia đình tai qua nạn khỏi. Như thế là từ các lập thuyết Trung Hoa, người An Nam chỉ giữ lại một mớ dị đoan thô lậu, và mọi thứ trở lực chống lại xu thế thô lậu này bị hoàn toàn vô hiệu hóa. Không bao giờ cảnh chùa chiền  đông đúc tín đồ như ta thấy ở Trung Hoa; theo nghĩa này, chùa thường xuyên vắng vẻ. Không có lễ chùa, không có kinh kệ. Mà ngược lại, toàn đám đông cúng bái ồn ào kèm theo ăn uống xô bồ, như sở thích người An Nam vốn vậy.- Vương Trí Nhàn
Thôi có thể chưa được giáo dục mà nên.
Nhưng một số nhà sư nay (con sâu bỏ …nồi canh) được học Phật pháp sao họ ăn chơi vậy:
Không lao động như nhà sư ngày xưa vì thấy móng tay chau chuốt.
Trang phục sang từ đầu đến chân đồ hàng hiệu.
Đi xe sang.
Kinh doanh đám ma, cho cốt vào chùa.
Dùng tiền của tín đồ  cho mình và người thân bất minh .
Ăn đồ quý, có khi không chay.

Quý kẻ có tiền, có quyền...., khinh ra mặt người không có tiền có quyền...
Không viết nữa vì nhiều người nói xấu một số nhà sư ở Phòng(1) hơn vậy.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Tổ chức của Giáo hội tuân theo Hiến chương được soạn thảo năm 1981 và sửa đổi một số lần sau đó. Theo đó, tổ chức Giáo hội chia thành cấp Trung ương, cấp tỉnh/thành và cấp quận/huyện/thị xã/ thành phố trực thuộc tỉnh. Tại cấp Trung ương, lãnh đạo của Giáo hội gồm hai Hội đồng: Hội đồng Chứng Minh và Hội đồng Trị Sự, với nhiệm kì 5 năm.
  • Hội đồng Chứng Minh: Thành viên Hội đồng Chứng Minh là các Hòa thượng. Đứng đầu Hội đồng Chứng Minh là Pháp Chủ, dưới là các Phó pháp chủ và các thành viên khác.
  • Hội đồng Trị sự: Thành viên Hội đồng Trị sự là các Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Ni trưởng, Ni sư, Cư sĩ. Đứng đầu Hội đồng Trị sự là Chủ tịch Hội đồng Trị sự, tiếp đó là các Phó chủ tịch, các Trưởng ban.
  • Tại cấp Tỉnh/thành, mỗi tỉnh/thành có Tỉnh/Thành hội Phật giáo, lãnh đạo bởi Ban trị sự Tỉnh/Thành hội, người đứng đầu là Trưởng Ban trị sự.
  • Tại cấp Quận/huyện/thị xã/ thành phố trực thuộc tỉnh, lãnh đạo bởi Ban đại diện Phật giáo, đứng đầu là Chánh Ban đại diện Phật giáo quận, huyện, thị xã, thành phố (trực thuộc tỉnh).
Theo tín đồ cho biết tổ chức của Hội Phật giáo trong thường trực ban trị sự cấp tỉnh/thành có Trưởng ban giáo dục tăng ni.
Mong rằng Ban giáo dục tăng ni sẽ giáo dục, uốn nắn Tăng, Ni theo giáo pháp của Đức Phật, kỷ luật ngay những kẻ lợi dụng Đạo Phật làm điều bất chính, khiến tín đồ nghi đạo, đó là tội lớn nhất của tăng, ni ở trần gian này.
Nếu không đủ tâm theo Đạo Phật hãy rời ngay khỏi chùa.
 Không theo được, nhưng tôi ngưỡng mộ Đạo Phật, vì đạo này đã hướng người ta nhân văn hơn trong thế giới loạn vì tiền, vì quyền…nhiều kẻ muốn cả thế gian là của riêng họ từ ngọn cỏ,… đến con chim…
Hiểu Đạo Phật làm ta tỉnh ngộ giữa dòng đời, dù ta không đến được.

Na mô A Di Đà Phật!.

Phòng, gần rằm tháng Vu Lan.
(1) Hải Phòng