TRÀ PHƯƠNG- NHÀ MẠC

Hiển thị các bài đăng có nhãn HỌ NGUYỄN CÔNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn HỌ NGUYỄN CÔNG. Hiển thị tất cả bài đăng

13 thg 10, 2015

QUÊ NHÀ TÔI ĐÂU?


Tôi muốn tìm về quê cũ
Hơn hai trăm năm cụ tổ ra đi
Không hiểu lý do gì?
Cụ không để lại
Tên tuổi cụ bà
Tên quê cũ
Chỉ biết nơi Người đến
Con cụ đã thành chánh tổng - hậu thần
Gia phả để đâu, phần mộ để đâu
mà vẫn dấu?
Bởi can qua giữa các vương triều
Kẻ thắng triệt kẻ thua vô cùng tàn bạo
Quan khổ dân đà thậm khổ
Đến quê nhà cũng dấu nữa họ tên
Một dân tộc biết bao giờ mới lớn
Khi lòng người luôn cứ thù dai

23 thg 1, 2013

XÂY LĂNG MỘ Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM



Trên thế giới có nhiều cách đưa con người về cõi vĩnh hằng:
Địa táng:
Việt nam, Trung Quốc và một số nước khác dùng phương pháp đưa người quá cố về cõi vĩnh hằng là địa táng: Hung táng chôn thi hài trong đất khoảng thời gian từ 3 năm trở lên, rồi đào lên đưa xương vào tiểu sành chôn vào nơi mới gọi là cải táng. 

Kim cương táng:
Công ty Life Gem ở Mỹ đưa ra một dịch vụ an táng mới là dùng tro xương người quá cố chế tạo kim cương nhân tạo để lưu lại những kỉ niệm về người quá cố, tượng trưng cho tình cảm gắn bó sâu sắc của những người đang sống với người chết, giúp cho họ dường như vẫn ở bên nhau.

Không táng:
Tro cốt người quá cố được đựng vào hộp kín đặt trong khoang tên lửa phóng vào không gian. Trường hợp đầu tiên trên thế giới được an táng trong vũ trụ diễn ra vào ngày 21/4/1997 ở Mỹ, đến nay dịch vụ này đã khá phát triển ở các nước phương Tây.

Thạch táng
Tro cốt người quá cố và gang sử dụng làm nguyên liệu làm ra san hô nhân tạo, cho vào giỏ thả xuống biển để nuôi cấy san hô, tro cốt người sẽ trở thành một bộ phận của cành san hô đó, giúp người quá cố trở thành một phần của thiên nhiên.

Hóa táng
Công ty Promessa của Thụy Điển lại tung ra một phương thức an táng mới, trong đó đặc trưng lớn nhất, ưu việt nhất của phương pháp này là bảo vệ môi trường. Người ta đem thi thể người quá cố làm thành phân bón hữu cơ, trong đó thành phần thủy ngân đã được phân tách nên không gây hại tới môi trường.

Yên hoa táng
Trộn lẫn tro cốt với thuốc pháo hoa, Công ty Heavens Above Fireworks đã “sáng tạo” ra một phương thức an táng mới. Con người ta khi chết đi ai cũng mong được lên thiên đường, trong khi pháo hoa có thể giúp họ tỏa sáng lần cuối rồi hòa tan vào vũ trụ bao la.
Những phát pháo được bắn lên bầu trời cũng là những lời chào ý nghĩa nhất của kẻ ra đi với những người ở lại.

Dịch táng
Thi thể người chết được đặt trong một loại dung dịch kiềm, xác sẽ phân hủy thành một loại dung dịch màu vàng đậm như mật mía và có mùi amoniac nhưng không gây ô nhiễm môi trường và có thể trực tiếp thải ra ngoài. Hiện tại chỉ có 2 trung tâm y tế thuộc đại học FloridaRochester của Mỹ áp dụng kĩ thuật này để xử lý các xác chết.

Bút táng
Lấy cacbon trong tro người chết chế tạo ruột bút chì. Mỗi chiếc bút chì sẽ được khắc tên người quá cố và ngày tháng qua đời của họ. Một hộp bút chì sẽ là nơi an táng lí tưởng cho một con người, một số phận và họ sẽ giúp đời tiếp tục vẽ lên những bức tranh muôn màu của cuộc sống.

Họa táng
Ashes to Portraits là công ty cung cấp dịch vụ họa táng. Một hợp chất đặc biệt sẽ hòa tan tro cốt người quá cố cùng với sơn dầu và dùng nó để vẽ một bức hình chân dung người quá cố. Phương pháp này có thể lưu giữ tro cốt trong thời gian dài, đồng thời để lại những kỷ niệm và hồi ức đẹp trong những người đang sống.
Còn nhiều phương pháp táng người không viết hết.
Tục địa táng của Ta xét về môi trường có thể bất lợi cho người còn sống, còn dẫn đến xây lăng, mộ giữ cốt được lâu, nhằm mục đích cốt ấy, hồn ấy còn lưu lại để phù hộ cho hậu duệ hưng vượng.
Quê tôi có nghĩa trang cổ, hình như con ngựa nằm diện tích hơn 10.000 m2 các gia đình và các họ xây nhiều lăng mộ nên nhìn như một thành phố của người đã khuất. Xét về mặt tâm linh chưa dám bàn, nhưng xét về việc sử dụng đất, xây dựng là rất tốn, tính sơ bộ việc xây dựng các lăng mộ có lẽ tốn nhiều tỷ đồng.

Đây là một số lăng mộ họ Nguyễn Công - Trà Phương:

Lăng chi II

Tháp "Baó ân họ Nguyễn Công"

Lăng chi II, nghành II





Họ Nguyễn Công chi 3 ở Đồng Tử, Kiến An có 9 lăng của 9 nghành:












Họ Nguyễn Công - Trà Phương nay có 13 lăng, chi phí thời điển nay khoảng hơn 3 tỷ VNĐ, đó là sự tốn, nếu quy tập xây thành 3 lăng chắc sự hoành tráng sẽ hơn, chi phí sẽ ít hơn, hai cái hơn này sẽ đóng góp vào sự phát triển chung của dòng họ và xã hội?
Anh Thành - một người dân An Bằng đã 10 năm làm nghề xây lăng - kể: "Lăng mộ ở làng này được xây dựng từ lâu, nhưng trước kia chỉ làm đen trắng. Từ 1991, bắt đầu xây ồ ạt, có trang trí màu và lớn dần như bây giờ. Nhỏ thì 7-8 nghìn USD, lớn thì 20-30 nghìn USD". 
Thoạt đầu, chỉ thấy những ngôi mộ đơn sơ với giá "bình dân", nhưng càng ngày các mộ phần càng được sửa sang, nới rộng, trang trí, trở thành những ngôi "biệt thự" uy nghi. Gia đình này xây lăng 150 triệu đồng, sẽ có gia đình khác gắng xây lăng 170 triệu; nhà khác sẽ xây "hoành tráng" hơn nữa, "cho bằng người ta". Khu nghĩa địa của làng An Bằng, vì vậy, thành nơi để nhiều gia đình khoe mạnh khoe giàu. 
Đây những lăng ở Huế chắc tốn hơn nhiều không hiểu của mấy họ?






Cho nên việc quy hoặch xây lăng mộ ở nông thôn Việt Nam, các cơ quan chức năng Bộ đâu, sở, phòng ...đâu? phải nghiên cứu quy hoạch, mô hình... như thế nào để tiết kiệm được quỹ đất và của cải của xã hội đó là văn hóa, là tiết kiệm để dân giàu nước mạnh. 

21 thg 10, 2012

VĂN KHẤN LỄ ĐỘNG THỔ XÂY LĂNG MỘ






Lăng mộ họ Nguyễn Công nhìn từ phía Đông - Nam xây sửa năm 1992 - 2008



Lăng mộ họ Nguyễn Công sửa năm 2012


Một phong cảnh nên thơ, phong thủy tốt cho nơi an nghỉ của tổ tiên



Tháp "Baó ân họ Nguyễn Công" xây năm 2012 

KÍNH LẠY:

CÀN KHÔN _
 HOÀNG THIÊN HẬU THỔ CHƯ VỊ TÔN THẦN.
          BẢN CẢNH THÀNH HOÀNG: THIÊN THẦN VỌNG HÀO, THÁI HOÀNG THÁI HẬU HỌ VŨ, ĐẠI VƯƠNG LINH QUY.
       _ NGŨ PHƯƠNG NGŨ THỔ LONG MẠCH TÔN THẦN, CÁC NGÀI TÔN THẦN CAI QUẢN TRONG KHU VỰC NÀY.
       _ CÁC HƯƠNG LINH TIỀN NHÂN ĐÃ KHUẤT Ở TRONG NGOÀI KHU  
mả Vối, Trà Phương thôn, Thụy Hương xã, Kiến Thụy huyện, Hải Phòng thành .                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                 
Hôm nay ngày 3 tháng 9 năm, Nhâm Thìn, ngày lành, tháng tốt. Tín chủ Nguyễn Công Kha đồng gia quyến, nguyên quán Trà Phương thôn, Thụy Hương xã, Kiến Thụy huyện, Hải Phòng 
thành. Thành tâm biện hương hoa, lễ vật dâng bày ra trước án. Xin thánh thần cùng các hương linh cho phép tín chủ Nguyễn Công Kha và gia quyến khởi tạo Tháp "Baó ân họ Nguyễn Công"  là biểu tượng lòng biết ơn của hậu duệ với tổ tiên họ Nguyễn Công, cũng là nơi an nghỉ hương linh thân mẫu Vũ Thị Sau sinh năm Mậu Thìn, quy tiên ngày 7 tháng 2, năm Bính Tuất và các anh Nguyễn Công Bia, Nguyễn Công Hảo, em Nguyễn Công Nguyên cát táng tại phía Tây mả Vối Trà Phương thôn, Thụy Hương xã, Kiến Thụy huyện, Hải Phòng Trà Phương, Thụy Hương, Kiến Thụy, TP Hải Phòng.
Nay
Rượu thơm cùng với xôi gà,
Gạo muối cùng với tiền vàng, hoa tươi
Ngũ quả thể hiện lòng người
Thành tâm dâng hiến đất trời cao xa
  Tới Ngài Kim Niên Đương Cai Thái Tuế Chí Đức Tôn Thần. 

Ba Ngài Thành Hoàng: THIÊN THẦN VỌNG HÀO, THÁI HOÀNG THÁI HẬU HỌ VŨ, ĐẠI VƯƠNG LINH QUY, Chư Vị Đại Vương. Ngài Bản Xứ Thần Linh Thổ Địa. Ngài Định Phúc Táo Quân, các Ngài Địa Chúa Long Mạch Tôn Thần và các vị Thần Linh cai quản trong khu vực này.
Các vị hương linh khuất mặt lần khuất quanh đây, các linh hồn chiến sĩ trận vong vì nước, các oan hồn uổng tử không nơi nương tựa, cúi xin giáng lâm trước án chứng minh đồng lai thọ hưởng.

     Lai độ cho Tín chủ Nguyễn Công Kha và gia quyến, ông Nguyễn Công Quyền cùng mọi người tham gia thi công 
Tháp "Baó ân họ Nguyễn Công" ,
người người đều đặng bình an, đồng lòng, tận tâm, tận lực xây dựng công trình bền vững, kiến trúc đẹp, hài hòa với cảnh quan, hưng công sở thành, kiến tạo như ý, từ đây hoạn lộ hanh thông, Đông thành Tây tựu, trú sở cát tường, làm nơi linh hồn tổ tiên họ Nguyễn Công an nghỉ, linh ứng phù hộ độ trì cho hậu duệ họ Nguyễn Công phát Phúc, phát Quan, phát Tài, vạn sự hanh thông, sở cầu tất ứng.
Ai có hai lòng mong được thần linh soi xét uốn, nắn về đúng đạo.
    Muôn bái Càn, Khôn, Ngài Kim Niên Đương Cai Thái Tuế Chí Đức Tôn Thần. Ba Ngài Thành Hoàng:
THIÊN THẦN VỌNG HÀO, THÁI HOÀNG THÁI HẬU HỌ VŨ, ĐẠI VƯƠNG LINH QUY, Chư Vị Đại Vương, Ngài Bản Xứ Thần Linh Thổ Địa.
Ngài Định Phúc Táo Quân, các Ngài Địa Chúa Long Mạch Tôn Thần và các vị Thần Linh cai quản trong khu vực này.
Các vị hương linh khuất mặt lần khuất quanh đây, các linh hồn chiến sĩ trận vong vì nước, các oan hồn uổng tử không nơi nương tựa, đồng lai thụ hưởng lễ này, độ cho tín chủ và gia quyến hưng công sở thành, kiến tạo như ý, từ đây hoạn lộ hanh thông, Đông thành Tây tựu, muôn sự cát tường.

Các bạn có thể thay tên gia chủ hoặc mục đích khởi tạo, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của mình, chớ nghe kẻ giả thầy có khi lại gặp rủi do buôn thần bán thánh mà mình bị gánh hậu quả không lường.










4 thg 7, 2011

Nguyễn Công Trứ

Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858), tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, là một nhà quân sự, một nhà kinh tế và một nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam cận đại.
Tiểu sử:
Nguyễn Công Trứ con quan Đức Ngạn hầu Nguyễn Công Tấn, quê ở làng Uy Viễn, nay là xã Xuân Giang huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ngay từ thuở còn hàn vi ông đã nuôi lý tưởng giúp đời, lập công danh, sự nghiệp:
Làm trai đứng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông.
Năm 1820 khi đã 42 tuổi, ông mới đỗ Giải nguyên ở trường thi hương trấn Nghệ An. Từ đây bắt đầu thời kỳ làm quan đầy sóng gió của ông. Ông hoạt động trong nhiều lĩnh vực từ quân sự, kinh tế tới thi ca.
Cuộc đời ông là những thăng trầm trong sự nghiệp. Ông được thăng thưởng quan tước nhiều lần vì những thành tích, chiến công trong quân sự và kinh tế, tới chức thượng thư, tổng đốc; nhưng cũng nhiều lần bị giáng phạt, nhiều lần giáng liền ba bốn cấp như năm 1841 bị kết án trảm giam hậu rồi lại được tha, năm 1843 còn bị cách tuột làm lính thú,…
Năm Tự Đức thứ nhất 1847 ông nghỉ hưu với chức vụ Phủ doãn tỉnh Thừa Thiên. Ông đúng là một vị quan văn - võ song toàn đã đóng góp nhiều công lao cho đất nước.
Sự nghiệp:
Hoạt động quai đê lấn biển vẫn tiếp diễn ở Kim Sơn
Quân sự:
Do chính sách hà khắc của nhà Nguyễn dưới triều đại Gia Long và Minh Mạng nên đã xảy ra liên tiếp nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân. Nguyễn Công Trứ tuy là quan văn nhưng phải cầm quân, làm tướng, đánh đâu thắng đó: 1827 dẹp Khởi nghĩa Phan Bá Vành, 1833 dẹp Khởi nghĩa Nông Văn Vân, 1835 dẹp giặc Khách. Đến đời vua Tự Đức thứ 11 (1858), khi thực dân Pháp tấn công Đà Nẵng, thì ông đã 80 tuổi nhưng vẫn xin vua cho đi đánh giặc.
Kinh tế:
Ông có sáng kiến chiêu mộ dân nghèo, đắp đê lấn biển, lập ấp, khai sinh các huyện Kim Sơn (thuộc tỉnh Ninh Bình ngày nay), Tiền Hải (thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay) vào những năm cuối thập niên 1820, đề xuất lập nhà học, xã thương ở nông thôn nhằm nâng cao dân trí và lưu thông hàng hóa. Những hoạt động của ông trong lĩnh vực kinh tế được nhân dân các vùng kể trên ghi nhớ. Hiện nay còn rất nhiều từ đường thờ cúng ông ở hai huyện nói trên và quê hương ông. Nhiều đình chùa tại các địa phương này cũng thờ ông và tôn ông làm thành hoàng làng.
Thơ ca:
Nguyễn Công Trứ là người có tài. Là một người của hành động, trải qua nhiều thăng trầm, Nguyễn Công Trứ hiểu sâu sắc nhân tình thế thái đương thời. Ông khinh bỉ và ngán ngẩm nó
Thế thái nhân tình gớm chết thay
Lạt nồng coi chiếc túi vơi đầy
Hay:
Tiền tài hai chữ son khuyên ngược
Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi
Hoặc:
Ra trường danh lợi vinh liền nhục
Vào cuộc trần ai khóc trước cười.
Trong xử thế ông cười nhạo sự thăng giáng, coi làm quan thì cũng như thằng leo dây và không giấu sự ngạo mạn:
Nào nào! Thằng nào sợ thằng nào
Đã sa xuống thấp lại lên cao.
Chán chường với chốn quan trường nhưng ông không chán đời. Ông vốn yêu đời, là người chịu chơi, với ông cái gì cũng có thể đem chơi kể cả tài kinh bang tế thế.
Trời đất cho ta một cái tài
Giắt lưng dành để tháng ngày chơi.
Nguyễn Công Trứ là người đào hoa, mê hát ả đào, ông viết nhiều bài ca trù đa tình. Ngất ngưởng, ngông nghênh, về hưu đi chơi ông không dùng ngựa mà dùng bò. Bảy mươi ba tuổi ông cưới vợ, trả lời cô dâu khi nàng hỏi tuổi:
Năm mươi năm trước, anh hai ba
(Ngũ thập niên tiền, nhị thập tam)
Hoặc trong bài "Bỡn nhân tình":
Tao ở nhà tao, tao nhớ mi
Nhớ mi nên phải bước chân đi
Không đi mi nói rằng không đến
Đến thì mi nói đến làm chi
Ngay lúc chua chát nhìn lại đời mình, ông vẫn là người đầy khí phách:
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
Giữa trời vách đá cheo leo
Ai mà chịu rét thì trèo với thông
Ghi chú: Cây thông trong cách hiểu Nho-Khổng giáo là người quân tử.
Đời ông đầy giai thoại, giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, bản lĩnh trí tuệ và mang tính bình dân sâu sắc. Có thể nói thơ ông sinh động, giàu triết lý nhân văn nhưng hóm hỉnh, đó là chất thơ có được từ đời sống, lấy đời sống làm cốt lõi.

Đô Lương đón bằng di tích lịch sử văn hoá dòng họ Nguyễn Công

UBND huyện Đô Lương, UBND xã Thái Sơn và dòng họ Nguyễn Công vừa tổ chức trọng thể lễ đón nhận bằng di tích lịch sử văn hoá của dòng họ.
Theo lịch sử ghi chép của gia phả dòng họ thì Hoàng Giáp Nguyễn Trọng Ngạn (1289-1370), vị tổ của dòng họ Nguyễn Công ở xã Thái Sơn là con trai trưởng của trạng nguyên Nguyễn Hiền - Nguyễn Trang Ngạn - một danh thần tiêu biểu của đời Trần. Trong cuộc đời làm quan, ông đã trải qua 4 đời vua triều Trần và đều được trọng dụng, ở cương vị nào ông đều ra sức giúp dân dựng nước, lập nên sự nghiệp rạng rỡ ở các lĩnh vực chính trị quân sự ngoại giao, văn hoá. Năm 1334, ông cùng Thượng hoàng Trần Minh Tông đi tuần thú đạo Nghệ An và đánh dẹp giặc ai lao ở phía tây xứ Nghệ. Sau đó, ông ở lại vùng đất này và chọn Bạch Hà làm nơi lập cư mới trở thành vị tổ mở đầu cho dòng họ Nguyễn Công ở Đô Lương ngày nay. Với công đức xây dựng vùng đất này, sau khi ông mất nhân dân và con cháu đã an táng thi hài ông bên cạnh vợ ở làng Lễ Nghĩa xã Minh Sơn, huyện Đô Lương và được con cháu chăm sóc phần mộ chu đáo. Trong cao trào cách mạng 30-31, nhà thờ họ Nguyễn Công là địa điểm hoạt động bí mật của Đảng, nơi cất dấu tài liệu, nơi sơ tán làm việc của một số cán bộ Tỉnh uỷ trong thời kỳ như đồng chí Tôn Quang Phiệt, Tôn Gia Hưng, Tôn Gia Lòng và là nơi thành lập Tổng uỷ Bạch Hà. Trong kháng chiến chống thực dân pháp và chống Mỹ, nhà thờ còn là nơi hội họp, tập huấn cho cán bộ, bộ đội dân quân và dạy chữ quốc ngữ.
Xét qua bề dày lịch sử và công trạng của các bậc tiền nhân, trên cơ sở hồ sơ khoa học, UBND tỉnh Nghệ An đã ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử văn hoá để phát huy giá trị lau dài của di tích. Đây là niềm tự hào của dòng họ Nguyễn Công, cũng là niềm tự hào của Đảng bộ nhân dân xã Thái Sơn huyện Đô Lương nói chung về mảnh đất giàu truyền thống cách mạng và văn hoá.


Thứ sáu, ngày 11 tháng hai năm 2011

Cụ Tổ Nguyễn Quang Thiều

Bản Cảnh Thành Hoàng Nam Sơn Linh ứng - Dực Bảo Trung Hưng Linh Phú Tôn Thần.
Tục thờ thành hoàng có nguồn gốc từ Trung Hoa cổ, sau khi du nhập vào làng xã Việt Nam đã nhanh chóng bám rễ vào trong tâm thức người nông dân Việt, trở nên hết sức đa dạng.
Thành hoàng có thể là một vị thiên thần như Phù đổng Thiên vương, một thần núi như Tản Viên Sơn thần, một vị nhân thần có công với dân với nước như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Dã Tượng... lại có khi là các yêu thần, tà thần... với nhiều sự tích hết sức lạ lùng, nhiều khi có vẻ vô lý. Tuy nhiên các thành hoàng được sắc vua phong (trừ những tà thần, yêu thần...) luôn luôn tượng trưng cho làng xã mà mình cai quản là biểu hiện của lịch sử, của đạo đức, phong tục, pháp luật cũng như hy vọng sống của cả làng. Thành hoàng có sức toả sáng vô hình như một quyền uy siêu việt, khiến cho làng quê trở thành một hệ thống chặt chẽ.
Theo tục lệ xưa, các đời vua thường phong các vị thành hoàng thành ba bậc: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần, tuỳ theo sự tích và công trạng của các vị thần đối với nước với dân, với làng xã. Các vị thần cũng được xét đưa từ thứ vị nọ lên thứ vị kia, nếu trong thời gian cai quản các vị này đã phù hộ, giúp đỡ được nhiều cho đời sống vật chất và tâm linh của dân chúng. Việc thăng phong các vị thành hoàng căn cứ vào sớ tâu của làng xã về công trạng của các vị thần. Sớ này phải nộp về triều đình trong một thời gian quy định. Mỗi lần thăng phong triều đình đều gửi sắc vua ban rất linh đình và cất nó trong hòm sắc thờ ở hậu cung đình làng.
Thành hoàng cũng được gọi là phúc thần, tức vị thần ban phúc cho dân làng, thường mỗi làng thờ một thành hoàng, xong cũng có khi một làng thờ hai, ba hoặc hai ba làng thờ một vị. Thành hoàng có thể là nam thần hay nữ thần, tuỳ sự tích mỗi làng.
Đình làng là nơi thờ phụng thành hoàng và trở thành một biểu tượng văn hoá tâm linh của mỗi người dân quê Việt. Làng nào cũng có đình, có khi mỗi thôn lại có một đình riêng. Đình để thờ thành hoàng nhưng đồng thời cũng trở thành nơi hội họp của chức sắc trong làng, hay là nơi sinh hoạt của cộng đồng làng xã. Mọi hoạt động này đều xảy ra ở đình với sự chứng kiến của thành hoàng.
Trong tâm thức người dân quê Việt, Đức thành hoàng là vị thần tối linh, có thể bao quát, chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng, bảo vệ, phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt, khoẻ mạnh. Các thế hệ dân cứ tiếp tục sinh sôi nhưng thành hoàng thì còn mãi, trở thành một chứng tích không thể phủ nhận được của một làng qua những cơn chìm nổi.
Có thể cho rằng, thành hoàng chính là vị chỉ huy tối linh của làng xã không chỉ về mặt tinh thần mà còn một phần về mặt đời sống sinh hoạt vật chất của dân làng. Cho nên sự thờ phụng thành hoàng xét cho cùng là sự thờ phụng luật lệ làng xã, lề thói gia phong của làng.
Chính sự thờ phụng này là sợi dây liên lạc vô hình, giúp dân làng đoàn kết, nếp sống cộng cảm hoà đồng, đất nề quê thói được bảo tồn. Vì lẽ đó, các hương chức cũng như các gia đình trong làng, mỗi khi muốn mở hội hoặc tổ chức việc gì đều phải có lễ cúng thành hoàng để xin phép trước. Có lẽ, sự ngưỡng mộ thành hoàng cũng chẳng kém gì sự ngưỡng mộ tổ tiên.
Ngày nay, lễ hội làng đang phát triển mạnh mẽ và nở rộ ở khắp nơi. Tục thờ cúng thành hoàng, diễn lại thần tích, rước xách, tế lễ đang được phục hồi, vì có như vậy mới ghi nhớ được công lao của các vị tiền bối với nước, với làng.
Thiên Hoàng Thiện Thịnh Cát Tứ Quan Trung Nam Cực Thọ Tinh Tràng cùng hưởng;
Lạc Thổ Lạc Giao Cù Lao Yên Trạch Đông Thành xuất sắc tự khai hoa.

15 thg 6, 2011

VỀ HỌ NGUYỄN CÔNG

Theo như một số nhà khảo cổ học (bảo tàng Nam Định)và các chuyên gia Nhật Bản đã về đây khảo sát.Lăng đá này có từ thời nhà Trần nếu đúng như gia phả để lại của dòng họ Nguyễn Công thì lăng đá này được vua Trần Thái Tông cho xây dựng để tỏ lòng biết ơn của nhà vua cho một vị quan họ Nguyễn Công trong triều đã có công lớn với triều đình (chưa rõ công trạng gì)thời đóLăng được xây dựng giữa cánh đồng (ngày nay người dân gọi là đồng cát vì đất ở đây có tỷ lệ cát khá cao giống như đất bồi ven sông hồng thích hợp cho trồng hoa màu cây lương thực)Hồi còn nhỏ tôi thường cùng mấy đứa bạn rủ nhau vào lăng bắn chim bắt tổ ong vì trong lăng có nhiều cây nhãn và nhiều cây dây leo rậm rạp leo quanh bốn bức tường xung quanh ,khi nào thích nằm lăn ra bậc thền đá mát rượiHiện nay lăng đá này vẫn còn khá nguyên vẹn, duy chỉ có một phần mái phía tây là bị nứt khoảng 2 cm dọc theo mái ,do bị sét đánh .Lăng có hình như một nụ sen khá đẹp mỗi cạnh khoảng 5 mét cao 15 mét,được ghép bằng những phiến đá lớn đồng nhất(mỗi phiến đá nặng khoảng trên 10 tấn).Chúng ta chưa lý giải được vì sao ngày xưa với công cụ thô sơ ông cha ta lại đưa được những phiến đá to lớn ở rất xa về như thế(loại đá xây lăng là đá xanh gần nhất cũng phải là Thanh Hóa cách gần 100 km).Trên tường đá phía trước có khắc nhiều dòng chữ nho đều đặn rất cân xứng.Cửa vào lăng được xây cổng gạch mái ngói nhưng đã hư hỏng khoảng 20 năm nay, Xung quanh lăng có tường bảo vệ được xây bằng gạch vồ dày 1,2 có chỗ 1,5 mét cao 3 mét,nhiều viên gạch vồ còn lại cho thấy nó được nung bằng củi hoặc rơm rạ (một thứ nhiên liệu có sẵn trong vùng thời xưa)gạch có kích thước 25-40-60cm nhiều viên hiện vẫn còn nguyên vẹn cho thấy kỹ thuật làm gạch của ông cha ta thời đó thật đáng khâm phục. Phần trên của nhiều đoạn tường gạch do thiên nhiên tàn phá đã bị sụp đổ .Năm 2004 dòng họ Nguyễn Công ,đứng đầu là ông Nguyễn Công Quỳnh (hiện sinh sống tại TP-Hồ Chí Minh)đã cho trùng tu lăng nhưng do kính phí có hạn nên chủ yếu chỉ là sửa chữa chắp vá để bảo vệ chứ không thể đủ kinh phí trùng tu được .Đây có thể coi như một di tích tôn giáo của một dòng họ có hàng ngìn năm lịch sử rất có giá trị về nhiều mặt (kiến trúc ,khoa học,tôn giáo ,lịch sử . v . v)chúng ta cần phải giữ gìn bảo vệ để con cháu chúng ta ngày mai sẽ hiểu hơn về giá trị lịch sử của nó về nhiều mặtĐôi nét về dòng họ Nguyễn Công ,đây là dòng họ không lớn trong khu vực hiện có khoảng 100 hộ cư ngụ tại xóm c xã Thành Lợi Huyện Vụ Bản Tỉnh Nam Định, và có khoảng 30 hộ đang sinh sống làm việc ở các nơi trong nước.Tại xóm c còn có một ngôi nhà thờ họ được xây dựng (ước khoảng 200 năm )theo kiến trúc cổ thời Trần (tường gạch cột gỗ mái ngói nam đỉnh mái có hoa văn rồng chầu nguyệt)ngôi nhà thờ luôn được bà con dòng họ trùng tu nhiều lần nên còn khá đẹp nguyên vẹn .Người dân họ Nguyễn Công ở quê sinh sống chủ yếu làn ruộng trồng rau nên kinh tế còn khó khăn thiếu thốn Thế nhưng dòng họ Nguyễn có truyền thống coi trọng chữ HIẾU với tổ tiên dòng tộc, mọi người ở xa gần luôn về nhà thờ xum họp gặp nhau ngày giỗ tổ trùng với ngày tết Thanh Minh hàng năm.Công việc trong ngày đó thường được trân trọng trang ngiêm dưới mái nhà thờ cổ.Mọi người gặp nhau trao đổi kinh nghiệm làn ăn dạy dỡ con cái học hành gia đình nào có con cái học giỏi được tuyên dương khen thưởng.Đó là một nét đẹp văn hóa rất quý của bà con họ Nguyễn Công nói riêng người dân châu thổ sông Hồng nói chung .

19 thg 5, 2011

HỌ NGUYỄN Ở VIỆT NAM & HỌ NGUYỄN CÔNG Ở TRÀ PHƯƠNG & ĐỒNG TỬ


1/ HỌ NGUYỄN Ở VIỆT NAM
Nguyễn (chữ Hán: 阮) là tên họ phổ biến nhất của người Việt, khoảng 40% dân số Việt Nam mang họ này.[1][2] Họ Nguyễn cũng xuất hiện tại Trung Quốc (Ruan) dù ít phổ biến hơn. Chữ "Nguyễn" có nghĩa gốc là tên của một nhạc cụ cổ xưa. Trong tiếng Hán, chữ Nguyễn được phiên âm là Ruǎn (tiếng Quan Thoại) hoặc Yuen (tiếng Quảng Đông), và được viết là 阮
Theo một số nghiên cứu, khoảng 40% người Việt có họ này.Trong lịch sử Việt Nam, đã từng có nhiều trường hợp và sự kiện mang nhiều người đến với họ Nguyễn.
Năm 1232, nhà Lý suy vong, Trần Thủ Độ đã bắt con cháu của dòng họ Lý chuyển sang họ Nguyễn. Khi Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, ông ta đã giết rất nhiều con cháu của dòng họ Trần. Vì thế, sau khi nhà Hồ sụp đổ, con cháu của họ Hồ vì sợ trả thù nên tất cả đã đổi sang họ Nguyễn.
Năm 1592, nhà Mạc suy tàn, con cháu của dòng họ Mạc cũng lại đổi họ sang Nguyễn. Khi triều đại nhà Nguyễn nắm quyền năm 1802, một số con cháu của họ Trịnh cũng vì sợ trả thù nên lần lượt đổi họ sang Nguyễn, số còn lại trốn lên Bắc sang Trung Quốc. Trong luật của triều đại nhà Nguyễn, những người mang họ Nguyễn được hưởng nhiều đặc lợi, được triều đình ban thưởng, và vì thế các tội nhân cũng theo đó đổi họ sang Nguyễn nhằm tránh bị bắt.
Một số nhân vật nổi tiếng
Nguyễn Bặc: Công thần khai quốc nhà Đinh Nguyễn Cảnh Chân: danh tướng chống quân Minh đời Hậu Trần Nguyễn Cảnh Dị: danh tướng chống quân Minh đời Hậu Trần, Nguyễn Cảnh Chân, Nguyễn Trãi, Nguyễn Xí: Công thần khai quốc nhà Hậu Lê, Nguyễn Quang Bật, Nguyễn Quyện, danh tướng nhà Mạc, Nguyễn Hoàng, chúa Nguyễn đầu tiên .Nguyễn Hữu Cảnh, quan của chúa Nguyễn, có công mở cõi miền Đông Nam Bộ, Nguyễn Du, Nguyễn Văn Thoại ,Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Sinh Cung (Hồ Chí Minh nghi họ Hồ), Nguyễn Văn Thiệu Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Linh: Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Sơn: Lưỡng quốc tướng quân, Nguyễn Chí Thanh: tướng lĩnh chính trị của Quân đội Nhân dân Việt Nam….
Trạng nguyên Việt Nam:Nguyễn Hiền: Trạng nguyên trẻ nhất trong lịch sử Việt Nam, Nguyễn Trực, Lưỡng quốc trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư, Nguyễn Lượng Thái, Nguyễn Xuân Chính, Nguyễn Quốc Trinh, Nguyễn Đăng Đạo. Nguyễn Thiến, Nguyễn Bỉnh Khiêm
Vua Nguyễn : Nguyễn Ánh. Nguyễn Phúc Đảm,
2/ HỌ NGUYỄN CÔNG Ở TRÀ PHƯƠNG & ĐỒNG TỬ
Theo Đại Việt sử ký toàn thư: làng Trà Hương đã có trước thời Lý, năm 1813 nhà Nguyễn thấy chữ Hương là phạm huý nên đổi thành Trà Phương. Có lẽ ven núi Trà, núi Đối là vùng đất cao hơn so với mực nước biển, nên người tiền sử đã dựa vào để sinh sống, xưa nghề sống chính của họ chắc là chài lưới, dân cư thời tiền sử có thể chưa hẳn là người Kinh ? họ thuộc hệ dân Đa Đảo sống trên thuyền, kiếm sống trên biển Bắc bộ, xung quanh hai núi Trà, Đối là nơi họ dừng để tránh bão, rồi họ lại trôi nổi theo thuyền đi khắp bốn phương trời vì lúc đó chưa có “ hộ khẩu, hoặc biên giới” để quản lý họ. ĐVSKTT ghi nhà Lý đánh thắng người Chăm (1070) đã bắt họ làm tù binh khi trở về Thăng Long, an trí họ ở Trà Hương, họ đã dựng nơi thờ thánh của họ tại Mả Đò vùng đất cao, xưa là cửa biển, họ đã hoà đồng với người Việt như thế nào? nhưng chắc họ là dân đi biển nên họ đã trốn về nam để lại đền thờ không còn người thực hiện nghi lễ tôn giáo nên dân Việt gọi là “chùa bà Đanh” và câu: vắng như chùa bà Đanh xuất hiện từ việc này chăng?
Nữ người Chăm rất đẹp, nên thời Lý vua có chiếu cấm các quan lấy gái Chăm đề phòng họ làm nội gián vì thời này hai dân tộc này là kẻ thù. Người lai thường đẹp và thông minh. Có phải chăng Thái Hoàng Thái Hậu họ Vũ là hậu duệ của Việt – Chăm ?
1527 – 1592 Trà Phương là vùng đất Dương Kinh nhà Mạc, Vũ Thị Ngọc Toàn người làng Trà lấy vua Mạc Đăng Dung được phong là Thái Hoàng Thái Hậu đầu triều Mạc. Năm 1592 nhà Mạc chạy lên phía Bắc người làng Trà sợ nhà Lê trả thù đã chạy theo. Khảo sát các họ ở Trà Phương đến nay không quá 12 đời, có thể dân vùng này đã theo Tây Sơn nên 1802 nhà Nguyễn thống trị Việt nam, sợ trả thù nên người làng Trà lại di đi?
Họ NC tại huyện Kiến Thuỵ trú tại 4 làng: Trà Phương đến nay đã được 11 đời; Cổ Trai; Kim Sơn; Chiếng ( từ Kim Sơn di đến) không quá 7 đời, (nay chưa thấy mối liên hệ các họ này với nhau).
A/ Họ Nguyễn Công ở Trà Phương
Theo tổ tiên họ Nguyễn Công ở Trà Phương truyền lại Thượng tổ Nguyễn Công Tiến là tướng lĩnh của nhà Quang Trung, triều đại này bị nhà Nguyễn trả thù khốc liệt, nên Ngài đã di từ Hà Tĩnh ra Trà Phương hậu duệ đến nay được 11 đời. Theo khoa học thì họ Nguyễn Công đến Trà Phương cách nay khoảng 200 năm cộng trừ 20 năm, như vậy ứng với sự lên ngôi của Nguyễn Ánh 1802. Tổ sinh được 3 trai: trưởng Nguyễn Công Đạt, thứ Nguyễn Công Trình, út Nguyễn Công Sự. Trưởng Nguyễn Công Đạt sợ liên luỵ thay đệm hậu duệ là Đình năy là Văn, ngành thứ Nguyễn Công Trình vẫn giữ đệm Công, ngành út Nguyễn Công Sự gia phả bỏ trống.
B/ Chi họ Nguyễn ở Vàng Xá An Lão
NV Hỷ ở Vàng Xá khoảng nhưng năm 1960 đã về nhận họ Nguyễn Công ở Trà Phương, xác định là họ Nguyễn ở Vàng Xá nghành thứ III tổ là NC Sự giỗ 20/5 & NG Thị Kha giỗ 20/6 đã di cư đến Vàng Xá từ đời thứ 5 NC Chăn, nhưng đời thứ 3 & 4 không xác định dược danh tính. NV Hỷ khi còn sống vẫn về cúng tổ hàng năm, NV Khánh (đời thứ 9) noi gương cha ngày 13/3 hàng năm vẫn lòng thành kính về giỗ Tổ tại Trà Phương
C/ Một số truyền ngôn về họ Nguyễn Công ở Đồng Tử
Nguyễn Công Hậu gọi Thượng tổ Nguyễn Công Tiến là ông nội làm chánh tổng Trà Phương là người nổi tiếng về học thuật, giàu của & có thế lực trong vùng, có phải Ngài lo cho sự truyền đời của họ Nguyễn Công mà đạo diễn cho cháu họ Nguyễn Công Phác di đến Đồng Tử. Ông nội tôi Nguyễn Công Cán kể: Nguyễn Công Hậu đi lên tỉnh Hải Dương qua đò Vọ thì người đi trước ngựa đi sau đến Đồng Tử nghỉ chơi rồi mới lên Hải Dương, chuyện quan xong về Đồng Tử nghỉ rồi mới qua đò Vọ về Trà Phương. Có phải chăng đây là nơi sinh sống của cháu Nguyễn Công Phác gọi mình bằng bác, cháu Nguyễn Công Chỉnh & Nguyễn Công Thuỵ gọi mình bằng ông bác. Nay ta đến đò, núi Vọ, Đồng Tử còn thấy mênh mang sông nước thì cách nay gần 200 năm vùng này hoang vu, huyền bí biết bao, mà Nguyễn Công Phác dám di đến sống ở vùng này ví như Anh Hùng rồi, nơi đây thuỷ bộ tiến thoái thuận lợi rất phù hợp với ý tưởng của tiền nhân nhằm chống lại truy sát của nhà Nguyễn?
Người bố trí cho hậu duệ lánh đi không truyền lại, sợ khi bị trả thù người ở lại không chịu được cực hình mà khai ra người đã lánh đi. Chỉ có người ra đi được truyền lại gốc tích của mình. Tại sao Thượng tổ Nguyễn Công Tiến không ghi lại gốc của mình từ đâu di về Trà Phương, hoặc hậu duệ đã dấu khi mất đi không kịp truyền lại. Đó là nỗi đau của một dân tộc triều đại thắng trả thù bằng cách tiêu diệt hậu duệ của kẻ thua như lịch sử đã ghi từ triều Trần trở về đây? Dòng họ Nguyễn Công tất cũng ở vòng xoá ấy.
Căn cứ bản gia phả & văn tế ngày 13/3 kỵ thượng tổ NC Tiến, (tiếc rằng gia phả & văn tế bị mất khoảng năm 1999, may đã dịch và vẽ cây phả hệ vào năm 1990). Hai ngành I & II định cư tại Trà Phương nên xác định được liên tục các thế hệ đến 2011 đã được 11 đời. Bảng dưới đây được khảo sát ngành I; ngành thứ II chi thứ và chi NC Chỉnh họ – Đồng Tử.
E/ Sự phát triển của họ Nguyễn Công ở Đồng Tử (chưa được đầy đủ)
Họ NC tại Đồng Tử nhà thờ xây 5 gian gỗ lim từ 1856, nay hậu duệ khoảng đinh, có truyền: Họ từ Trà Phương đến Đồng Tử, trước 1945 còn về giỗ tại Trà Phương, gia phả đã ghi được đến nay là đời thứ 9, nếu có sự di chuyển từ Trà Phương đến Đồng Tử có thể là nghành thứ 3 NC Sự di cư từ đời thứ 4 NC Phác sau đó đã đưa hài cốt của mẹ đời thứ 3 là vợ NC Tự táng ở chân núi Vọ?
F/ Một số vấn đề cần thận trọng khi đưa ra trong hội thảo tới đây:
1/ Họ Nguyễn Công ở Đồng Tử có những tài liệu vật thể & phi vật thể nào để xác định là nguồn từ họ Nguyễn Công ở Trà Phương?
2/ Về khoa học có phải giám định AND?
2/ Nghĩa Hán tự của các chữ: Công Sự( ) và Công Tự
( ), nếu không trùng nhau thì có thể đây là bố con chứ không phải 1 người?
Căn cứ vào đó ta sẽ xác định ngôi thứ đúng, nếu không chúng ta có tội với tổ tiên, vì một số họ cũng chỉ vì mục đích cá nhân mà làm mất đoàn kết, phỉ báng tổ tiên.Qua tài liệu, giác quan thứ sáu và linh ứng của cổ nhân của họ Nguyễn Công chúng ta cùng nghiên cứu để xác định được sự liên quan giữa các họ Nguyễn Công . Mong mọi sự tốt lành đến với chúng ta.
Đây là mộ số suy nghĩ của tôi nếu chưa đúng xin được quý vị lượng thứ!
Mùa xuân năm T. Mão - Nguyễn Công Kha
Bài này có sử dụng tài liệu của Wikia và được đăng trên trang: Các dòng họ - Nuitraphuong. Blog









HỘI ĐỒNG GIA TỘC NGUYỄN CÔNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------o0o---------

QUY CHẾ TỔ CHỨC VÀ NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI ĐỒNG GIA TỘC NGUYỄN CÔNG

Điều 1: Tên và trụ sở
- Tên: Hội đồng gia tộc Nguyễn Công Trà Phương
- Ngày giỗ: Thượng tổ Nguyễn Công Tiến13/3 âm lịch.
- Trụ sở của Hội đồng đặt tại Trà Phương Thuỵ Hương, Kiến Thuỵ, Hải Phòng.
- Biểu tượng:
Điều 2: Tôn chỉ, mục đích và nhiệm vụ của Hội đồng
- Hội đồng gia tộc Nguyễn Công là một tổ chức tập hợp những người có huyết thống của thượng tổ Nguyễn Công Tiến đến Trà Phương khoảng năm 1790, là tổ chức phi lợi nhuận, trên cơ sở tôn trọng các quy phạm đạo đức, luật pháp Việt Nam.
- Hoạt động của Hội đồng gia tộc Nguyễn Công trong phạm vi cả nước nhằm xây dựng và củng cố mối liên hệ giữa các cư dân họ Nguyễn Công cũng như những người có nguồn họ Nguyễn Công, với cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
- Giúp đỡ nhau tìm hiểu lịch sử, truyền thống họ Nguyễn Công và tôn vinh những giá trị, bản sắc tốt đẹp của dòng họ.
- Đoàn kết giúp đỡ nhau trong cuộc sống và phát huy lòng yêu nước cũng như truyền thống dòng họ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Bảo vệ các quyền lợi hợp pháp về tinh thần, vật chất, đạo đức của các công dân họ Nguyễn Công theo quy định của pháp luật.

Điều 3: Tổ chức của Hội đồng
Hội đồng gia tộc Nguyễn Công gồm:
A/ Thường trực hội đồng:
Thành phần:
Chủ tịch, 4 phó chủ tịch đại diện cho chi I: 1, II: 1, chi III: 2 (nhánh Vàng Xá: 1, nhánh Đồng Tử), 9 uỷ viên chi I: 2, chi II: 2, chi III: 5 ( Vàng Xá :2, Đồng Tử :3)
Chức năng, nhiệm vụ:

B/ Trưởng tộc: đương nhiên Nguyễn Công Đông
Chức năng, nhiệm vụ:



C/ Ban thư ký, nghiên cứu lịch sử, truyền thống và di sản dòng họ :
Thành phần:
7 thành viên, có 1 trưởng ban và 3 phó ban, mỗi chi 2, chi III :3
Chức năng, nhiệm vụ:



D/ Ban đối ngoại và lễ tân
Thành phần: 7 thành viên có 1 trưởng ban và 3 phó ban: mỗi chi 2, chi III :3
Chức năng, nhiệm vụ:




E/ Ban kinh tế - Tài chính
Thành phần: 7 thành viên có 1 trưởng ban và 3 phó ban: mỗi chi 2, chi III :3
Chức năng, nhiệm vụ:
- Thu, chi các nguồn tiền, vật chất được tạo ra từ việc họ, mở sổ sách thu chi theo pháp lệnh kế toán Việt Nam. Tất cả thu, chi được quyết toán cụ thể bằng văn bản niêm yết công khai và gửi cho các chi trước 10 giờ sáng ngày 13/3 hàng năm..
- Tổ chức thu chi, sắm lễ, tạo soạn cỗ cúng Thượng tổ Nguyễn Công Tiến vào ngày 13/3 âm lịch chỉ sử dụng tiền góp giỗ tổ hàng năm. Tất cả thu chi được quyết toán cụ thể bằng văn bản niêm yết công khai trước 10 giờ sáng ngày 13/3
F/ Quỹ họ và nguyên tắc sử dụng :
- Các nguồn thu:
+ Kêu gọi sự tài trợ của bà con cô bác có hảo tâm đặc biệt là các nhà doanh nghiệp do người họ Nguyễn Công đứng đầu( số tiền không hạn chế)
- Các nguồn công đức, đóng góp chỉ được chi cho các việc do Thường trực hội đồng quyết định + Họ phí của: đ/năm , trừ trường hợp khó khăn sẽ được miễn. + Tiền quỹ được gửi ngân hàng - Các khoản chi:+ Thăm viếng người ốm phải đi nằm viện …..đồng 1 lần/năm+ Phúng viếng tứ thân phụ mấu: Một vòng hoa hay một bức trướng trị giá: ….. và 200.000 đ+ Khen thưởng, khuyến học( có biểu tượng của Hội đồng gia tộc Nguyễn Công ): - Mừng thọ: 70; 80; 90: trị giá … đồng; 100 tuổi:….. đồng.
- Được giải thưởng cấp thành phố : 200.000đ, giải thưởng cấp quốc gia: 500.000 đồng. - Trúng tuyển vào các trường Đại học và Cao đẳng: 200.000đ
- Suất học bổng cho học sinh viên : 500.000đ/suất- Trợ cấp khó khăn 200.000đ - Chi cho các buổi sinh hoạt thường kỳ và đột suất của Hội đồng gia tộc - Văn phòng phẩm; tiền điện thoại cho chủ tịch Hội đồng gia tộc, trưởng các chi và địa hạt Vàng Xá & Đồng Tử đồng/1năm.
Điều 4: Nguyên tắc hoạt động
- Toàn bộ các công việc và hoạt động của dòng họ phải được Thường trực hội đồng họp, trao đổi và nhất trí. Những công việc không được thường trực hội đồng thống nhất thì không được làm. Các phó chủ tịch và các Ban chuyên môn có nhiệm vụ giúp thường trực Hội đồng gia tộc Nguyễn Công giải quyết các công việc của dòng họ.
- Thường trực Hội đồng gia tộc Nguyễn Công định kỳ họp 6 tháng một lần và họp vào đầu xuân mỗi năm (sau Tết âm lịch), thời gian họp cụ tể do chủ tịch Hội đồng ấn định.
- Trường hợp chủ tịch Hội đồng gia tộc Nguyễn Công vì lý do vắng mặt thì phó chủ tịch thứ nhất thay mặt chủ tịch cùng Thường trực hội đồng bàn bạc để giải quyết các công việc của dòng họ.
- Trưởng Ban thư ký có nhiệm vụ phối hợp, đôn đốc các ban chuyên môn để hoạt động theo đúng nhiệm vụ và quy chế, nhằm giúp Thường trực hội đồng thực hiện kế hoạch đề ra.
- Tất cả văn bản, biên bản và các quyết định trong các nhiệm kỳ họp của thường trực hội đồng được ghi chép và lưu giữ tại ban thư ký. Những công việc của dòng họ Thường trực hội đồng phải thông báo cho trưởng các chi họ Nguyễn Công ở các khu vực và địa phương biết.
- Các ban chuyên môn phải báo cáo công tác của mình trong các kỳ họp để Thường trực hội đồng cho ý kiến.
- Các chi họ Nguyễn Công có công việc hiếu, hỷ… của chi, trưởng chi có trách nhiêm thong báo cho Thường trực hội đồng phối hợp giải quyết.
- Các cá nhân không được phát ngôn, phát tán tài liệu về họ Nguyễn Công trái với tôn chỉ, mục đích cũng như quy chế hoạt động và kết hoạch công tác của Thường trực hội đồng đề ra.
- Thường trực hội đồng gia tộc Nguyễn Công có con dấu xác nhận các văn bản do Hội đồng phát hành, Ban thư ký quản lý con dấu.


Điều 6: Tài chính và tài sản của Hội
- Tài chính của hoạt động theo quy định hiện hành của pháp luật Việt nam và quy chế tổ chức và nguyên tắc hoạt động của Hội theo quy định của luật Dân sự Việt Nam.
- Nguồn tài chính của Hội đồng gia tộc Nguyễn Công bao gồm: Tài chính, tài sản tạo ra từ nguồn quyên góp và các nguồn để phục vụ cho các hoạt động của hội đồng. Tài chính của Hội đồng sẽ được tổng kết, báo cáo hàng năm trong hội nghị toàn thể của Hội đồng vào ngay 13/ 3 âm lịch.
- Tài sản của Hội đồng gia tộc Nguyễn Công
Điều 7: Khen thưởng và xử lý vi phạm
- Hàng năm họp định kỳ Thường trực hội đồng xem xét khen thưởng cho các cá nhân có đóng góp xuất sắc trong việc phát huy truyền thống tốt đẹp của dòng họ hoặc hoạt động nghề nghiệp, khuyến học. Quỹ khen thưởng lấy từ nguồn tài chính của Hội và do Thường trực Hội đồng quyết định.
- Thường trực hội đồng sẽ xem xét, xử lý tuỳ theo mức độ, thậm chí có thể bị khai trừ khỏi Hội đồng gia tộc Nguyễn Công đối với các thành viên vi phạm tôn chỉ, mục đích, nguyên tắc và quy chế của Hội đồng.
- Hội đồng gia tộc Nguyễn Công có nhiệm kỳ 5 năm. Trong quá trình hoạt động, các thành viên của Thường trực hội đồng và các ban chuyên môn làm việc không có hiệu quả, hoặc có tên nhưng không tham gia hoạt động thì phải bổ xung thay thế.
Điều 8: Điều khoản thi hành
- Các thành viên trong Hội đồng gia tộc Nguyễn Công và các ban chuyên môn căn cứ vào quy chế này để cụ thể hoá chức năng, nhiệm vụ và nghiêm chỉnh chấp hành không được trái với tinh thần chỉ đạo của Thường trực Hội đồng.
- Bản quy chế này được toàn thể các thành viên Hội đồng gia tộc Nguyễn Công nhất trí tại các cuộc họp 13/3 năm Nhâm Thìn và có giá trị thực hiện ngay.
- Bản quy chế tổ chức và nguyên tắc hoạt động của này chỉ được điều chỉnh và có giá trị thực hiện khi được Hội đồng gia tộc Nguyễn Công Trà Phương thống nhất thông qua.
Trà Phương, ngày 13 tháng 3 năm Nhâm Thìn

Đại diện các chi và trưởng các ban Chủ tịch HĐGT Nguyễn Công

13 thg 4, 2011

VỀ HỌ NGUYỄN CÔNG TRÀ PHƯƠNG

Về họ Nguyễn Công
Ngày 9 tháng 3 năm Tân Mão Tôi cùng cụ NC Hường đến Đồng tử Kiến An để thăm một họ NC theo một cây phả hệ do ông Hải người cùng làng chuyển về, lạ thay chúng tôi đến gặp ngày kỵ của N v Thiếp đời thứ 4 của họ này. Lễ kỵ có thầy xin đài 4 lần không được, chủ tịch HĐGT khấn: Xin ngài về nhận lễ và tiếp khách thì được và cũng là lúc chúng tôi đến sân, dù không báo trước. Chúng tôi được hưởng lộc và bàn luận về sự phát tích, rồi đến dâng lễ tại từ đường, dâng hương nơi Ng Công Phác đã cát táng hài cốt bố tại chân núi Vọ. Gặp nhau như tình ruột thịt, chúng tôi đã mời đại diện của họ đến dự lễ kỵ tổ NC tại Trà Phương vào ngày 13/3 đại diện họ sẽ cử 5 đại diện đến dự lễ này.
Bảng để so sánh và nghiên cứu tài liệu đã có giữa họ NC ở Trà Phương và Đồng Tử
Đời thứ1 Nguyễn Công Tiến
2
Nguyễn Công Đạt
Nguyễn Công Trình
Nguyễn Công Sự

3
NĐ Kim
NC Hậu
NC ?
Vàng Xá ?
NCTự?
Đồng Tử?
4
NC Lực
NCBẩm
NC Nhiên ?
NC Phác?
5
NC Phiếu
NC Trước
NC Chăn
NC Chỉnh
6
NC Đáo
NC Soạn
Nv
Nv Thiếp
7
Nv Thoại
NC Kín
Nv
Nv Hoà
8
Nv Rụ
NC Toán
Nv
Nv Lệ
9
Nv Đông
NC Kha
Nv
Nv Thung
10
Nv 
NC Khuê
Nv
Nv Bách
11
Nv Minh
NC Khiêm
Nv
Nv Chiến
Hai ngành I & II định cư tại Trà Phương nên xác định được liên tục các thế hệ đến 2011 đã được 11 đời. Bảng trên được khảo sát nghành Trưởng và nghành thứ II chi thứ và chi NC Chỉnh họ NC – Đồng Tử. Căn cứ bản văn tế vào ngày 13/3 kỵ thượng tổ NC Tiến, tiếc rằng văn tế bị mất khoảng năm 1999, may đã dịch và vẽ cây phả hệ vào năm 1990.
Cây phả hệ này họ NC ở Vàng Xá đã xác định là nghành thứ III tổ NC Sự, đã di cư đến Vàng Xá từ đời thứ 5 NC Chăn.
Sự tồn nghi về họ NC tại Đồng Tải: Đã ghi được đén nay là đời thứ 9, nếu có sự di chuyển từ Trà Phương đến Đồng Tử có thể là nghành thứ 3 NC Sự di cư từ đời thứ 4 NC Phác sau đó đã đưa hài cốt của bố đời thứ 3 là NC Tự táng ở chân núi Vọ?
Theo cây phả hệ của họ NC tại Trà phương và Đồng Tử ta tham khảo thêm.
Họ NC tại Đồng Tử có truyền: Họ từ Trà Phương đến Đồng Tử, nhà thơ xây từ 1856, trước 1945 còn về giỗ tại Trà Phương?
Họ NC tại Huyện Kiến Thuỵ trú tại 4 làng: Trà Phương đến nay đã được 11 đời; Cổ Trai; Kim Sơn; Chiếng ( từ Kim Sơn di đến) nhưng không quá 7 đời.
Qua tài liệu, giác quan thứ sáu và linh ứng của cổ nhân của họ NC chúng ta cùng nghiên cứu để xác định được sự liên quan giữa các họ NC. Mong mọi sự tốt lành đến với chúng ta
Có thể liên hệ NC Hường đời thứ 7 đt: 0912155329, NC Kha đời thứ 9 đt: 0903253596 NC Kha biên soạn.