22 thg 3, 2016

MỸ GIÀU NHƯNG KIỆT


Mỹ giàu mà kiệt, to như tổng thống với ngân sách dịch vụ công khủng để phục vụ cho TT thực hiện công vụ mà không cử một nhân viên che ô cho TT, để TT tự che ô thế này à?.
Nước ông phóng túng nhá, dù nghèo, hưu lãnh tụ được dùng xe công theo Luật, không hiểu lái có của NN không? rồi tượng có thể tự đắp hoặc ngân sách chi rất hoành để ở quảng trường cấp tỉnh,... trong nhà tưởng niệm. Suy kỹ giống thời phong kiến mà ta đã lật, nay nó lại ngoi vào đời sống hiện đại rồi?.
Ở Ta không quy định người che ô cho lãnh tụ nhưng nhiều kẻ tự nguyện & tranh nhau che ô cho lãnh tụ, che được hãnh diện chớp hình, treo ảnh to hơn cái mẹt ở tư gia & khu nhạy cảm nhế, có thật không hay bọn phản động nó truyền tuyên bậy!? Nước ta thật là hạnh phúc nhất thế gian, dân yêu, dân quý lãnh tụ vô vàn, che ô để lãnh tụ không bao giờ bị cảm, để làm được nhiều việc vì dân, không như dân Mỹ bạc như rận ai ơi?
To Nguyetcuong Hp để kiểm chứng ở nước giãy chết, Nguyễn ThôngHoa Thanh Quế để kiểm tra sở tại.

21 thg 3, 2016

TÂM SỰ LÚC BAN MAI VỚI CHÁU GÁI YÊU


Con gái thành vợ là rất khó bởi vì không biết chọn người đối ngẫu đúng là khổ đau cả đời vì giống đực ví con ngựa bất kham không xỏ mũi được thì không định hướng được nó, mà ngựa không muốn bị xỏ mũi & luôn tưởng nó là thông minh nhất trên đời. Thành mẹ rồi hạnh phúc đã đến nhưng buồn, vui có, khổ đau có, tranh đấu cho hạnh phúc không đơn giản.
Vì...nhà chồng không phải nhà mình, mà chính là nhà mình. Thành mẹ là một bước thử thách ai không vượt qua thì không trở thành bà, không trở thành bà là nỗi buồn lớn nhất của phụ nữ ? bao giờ thành bà mới thấm thế nào là hạnh phúc vì ta đã traỉ qua bao nhiêu hỷ, nộ ái, ố để đi đến Phúc - Lộc - Thọ.
Tuổi trẻ chưa thể cảm nhận, chưa chắc đã định hướng được, cho nên người chồng có thể giúp mình đến Phúc - Lộc - Thọ như thế nào, 70% là do phúc nhà chồng & do mình, ôi phụ nữ trước cuộc đời khổ thay & hạnh phúc thay? tâm sự cùng cháu gái yêu & mong những phản hồi cho phận con gái mau viên mãn trước cuộc đời làm mẹ...

19 thg 3, 2016

ĐIỆN THOẠI RƠI, NGƯỜI NHẶT ĐƯỢC ĐEM TRẢ TẬN NHÀ


Năm xưa giai thứ mua thêm 1 điện thoại loại có nhiều chương: truy N, F, la bàn, lập số Tử Vi, a lô...đến chớp hình, cám ơn con vì nó làm mình bỗng chốc hóa "nghệ sĩ".
Ngày Tân Hợi đến nhà bạn chơi, bạn bảo thôi ra quán phán cho thoải mái, cháo ăn rồi sang quán cafe ngồi, chừng 2 tiếng, lái ô tô về nhà không thấy điện thoại đâu, liền điện thoại cho hai chủ quán, hai ngài cho kiểm tra không thấy ở quán, điện vào máy có chuông không trả lời, mừng! mong người nhặt được sẽ cho chuộc, nhưng gọi lần nữa thấy vang lên: đt không liên lạc được...theo kinh cổ truyền hết hy vọng, lại nhìn thấy vỏ đt còn ở nhà trên đó tôi viết bằng sơn: "Ai nhặt được xin gọi vào số 090...chủ máy xin chuộc lại & đa tạ" để mong khi mất họ gọi cho mình để chuộc. Thôi thế là chúng ta chia tay vĩnh viễn rồi đt ơi?
Vật thân quen làm tôi quyến luyến lại là vật con cho, lòng bồi hồi thương nhớ, thương tiếc một số ảnh chụp, tư liệu may mà vài tấm hay đã cất vào F!
Buồn là người nhặt được đt cho người mất chuộc với số tiền xứng, người mất giữ lại nhiều tư liệu quý, cả hai đều hay, nhưng thương ôi người nhặt được đã cho: "đt không liên lạc được..." để chủ đt buồn, thất vọng tìm lại.
Việc nhỏ thôi nhưng người mình không hợp tác, để các bên đều bất lợi có thứ nhỏ nhưng thiệt hại lớn. Người Việt ta ơi hãy hợp tác từ việc nhỏ cho đến việc to thì Việt ta mới nhớn được ai ơi!
Ngày Đinh Dậu có người điện từ đt SKy đã mất & muốn trả lại cho tôi, mừng quá cám ơn, nhưng vì hai ngày có cúng bề trên ở quê, xin hẹn gặp lại ngày khác.
Ngày Kỷ Hợi tiếng người đàn ông hẹn qua đt SKY sẽ đem đt đến tận nhà, mừng vô cùng! 9 giờ người đàn ông đến đưa đt thoại cho tôi, hỏi ra thì mới biết người nhặt được điện thoại của tôi là cựu sĩ quan Cảnh Sát, người đem đt cho tôi là sĩ quan An Ninh là con trai của cựu sĩ quan CS. Khách chủ dùng cafe, bánh ngọt tâm tình muôn chuyện trên đời, gần trưa tôi mời khách đến ăn trưa tại nhà hàng gà Đông Hồ & trả tiền chuộc, khách chối từ cả hai, biết làm sao bây giờ. Chia tay bịn rịn, thầm cám ơn cha con người tốt, giữa trần thế đầy nhiễu nhương vẫn còn có nhiều người tốt đến vô cùng!

12 thg 3, 2016

MẤT ĐIỆN THOẠI & NỖI BUỒN NHÂN THẾ


Năm xưa giai thứ mua thêm 1 điện thoại loại có nhiều chương: truy Nét, la bàn, lập số Tử Vi, a lô...đến chớp hình, cám ơn con vì nó làm mình bỗng chốc hóa "nghệ sĩ".
Ngày qua đến nhà bạn chơi, bạn bảo thôi ra quán phán cho thoải mái, cháo ăn rồi sang quán cafe ngồi, chừng 2 tiếng, lái ô tô về nhà không thấy điện thoại đâu, liền điện thoại cho hai chủ quán, hai ngài cho kiểm tra không thấy ở quán, điện vào máy có chuông không trả lời, mừng! mong người nhặt được sẽ cho chuộc, nhưng gọi lần nữa thấy vang lên: đt không liên lạc được...theo kinh cổ truyền hết hy vọng, lại nhìn thấy vỏ đt còn ở nhà trên đó tôi viết bằng sơn: "Ai nhặt được xin gọi vào số 090...chủ máy xin chuộc lại & đa tạ" để mong khi mất họ gọi cho mình để chuộc. Thôi thế là chúng ta chia tay vĩnh viễn rồi đt ơi?
Vật thân quen làm tôi quyến luyến lại là vật con cho, lòng bồi hồi thương nhớ, thương tiếc một số ảnh chụp, tư liệu may mà vài tấm hay đã cất vào F!
Buồn là người nhặt được đt cho người mất chuộc với số tiền xứng, người mất giữ lại nhiều tư liệu quý, cả hai đều hay, nhưng thương ôi người nhặt được đã cho: "đt không liên lạc được..." để chủ đt buồn, thất vọng tìm lại.
Việc nhỏ thôi nhưng người mình không hợp tác, để các bên đều bất lợi có thứ nhỏ nhưng thiệt hại lớn. Người Việt ta ơi hãy hợp tác từ việc nhỏ cho đến việc to thì Việt ta mới nhớn được ai ơi!
Tiền không tiếc, chỉ tiếc công của người tạo dựng dữ liệu đã bị vứt bỏ, chỉ vì người nhặt mưu lợi nhỏ, chỉ tiếc tình người?

24 thg 2, 2016

VÀI SUY NGHĨ VỀ MIẾU ĐẠI VƯƠNG LINH QUY, QUÊ NGOẠI NHÀ MẠC


Theo Đại Việt sử ký toàn thư: Năm 1070 nhà Lý đại thắng nhà Chăm Pa, bắt nhiều tù binh trên đường về Thăng Long đến cửa Văn Úc lũ lớn phải vào sông Họng khi qua Trà Hương & Tú Đôi đã cho một số tù binh người Chăm an cư tại Trà Phương & Tú Đôi, người Chăm đã lập đền thờ thánh của họ ở phía Tây Nam mả Đò, sau nhiều năm họ vượt biển về quê cũ không ai thờ tự nên người Việt gọi là chùa Bà Đanh (đầu thế kỷ XX còn dấu tích).
Làng Trà Phương tên cổ là Trà Hương năm 1813 nhà Nguyễn cho là phạm húy đổi thành Trà Phương. Trà Hương dịch theo tiếng Hán là: hương trà thơm, xưa hay lấy địa danh theo một vật thể ở vùng đó, có thể núi Chè ngày xưa có loại chè ngon mọc tự nhiên nên gọi là Trà Hương?. Năm 1527 Mạc Đăng Dung lập nên nhà Mạc, Thái Hoàng Thái Hậu họ Vũ vợ vua Mạc Đăng Dung là người Trà Phương, nên thời này Trà Phương phát triển rực rỡ với nhiều phủ, viện, con gái làng Trà có nhiều người đẹp nổi tiếng trong vùng Dương Kinh, ứng với lời đồng dao: “ Cổ Trai đế vương – Trà Phương công chúa”. Như vậy làng Trà Phương được lập trước năm 1070.

Thành Hoàng làng Trà có ba vị là: Thiên Thần Vọng Hào; Thái Hoàng Thái Hậu họ Vũ; Đại Vương Linh Quy. ( theo văn tế đình làng Trà)
Về MIẾU ĐẠI VƯƠNG LINH QUY:
“Núi Trà Phương thuộc địa phận thôn Trà Phương, Thụy Hương, Kiến Thụy, TP Hải Phòng. Tọa độ 20 độ, 44’, 20” B, 106 độ, 39’, 30” Đ, cao 52 m, sách “Đại Nam nhất thống chí” cho biết núi này cách huyện Nghi Dương, phủ Kiến Thụy, tỉnh Hải Dương 7 dặm về phía Tây. Sách “Hải Dương toàn hạt dư địa chí” cho biết núi Trà Sơn, tại xã Trà Sơn, tổng Trà Hương, huyện Nghi Dương, phủ Kiến Thụy, tỉnh Hải Dương, cao 30 trượng, rộng hơn trăm mẫu. Chân núi có đền Linh Quy (Rùa Thiêng), trong sân đền có một khối đá thiêng hình Rùa nổi lên, bên cạnh có giếng rất ngon. Trong vùng đầm ao, sản nhiều rùa, dân không dám bắt, không cho mang ra khỏi làng; dân quanh vùng cũng thờ thần Linh Quy” - Trích Từ điển địa danh Hải Phòng.
Xưa quanh núi Trà Phương cây các loài mọc như rừng nguyên sinh đặc biệt cây chè hợp thủy thổ nên phát triển mạnh nhất nên dân gọi là núi Chè & cổ hơn tên làng Trà Phương gọi là làng Chè, làng Trà Nhang ( có thể chữ nhang này thay chữ Hương do húy kỵ). Xưa sông cổ chảy từ Mai Dương qua Tiên Cầm chảy qua nơi giáp danh giữa Trà Phương & Phương Đôi, uốn sát ven núi Chè qua làng Quế xuôi về Cổ Trai, do vậy thuỷ triều sinh ra nhiều loài thủy sinh nước lợ đặc biệt là Rùa mai màu vàng, màu đen sống ở khắp làng Trà Phương. Chân núi có một khối đá thiêng hình Rùa nổi lên, bên cạnh có giếng rất ngon, nhà Lý cho lập miếu gần khối đá thiêng hình Rùa & sắc phong thần miếu là:” Đại Vương Linh Quy” Nơi đây cây cối bốn mùa xanh tốt chiều đến chim các nơi về bay rợp trời rồi đáp xuống ngủ đêm. 
 Ngày 6 tháng Hai hàng năm là ngày lễ Đại Vương Linh Quy, các Giáp mang lễ là lợn nguyên con, cùng đồ tế lễ, mình Đại Vương Linh Quy được phủ kín giấy màu đỏ, kết thúc lễ được hóa cùng vàng mã.
Miếu “Đại Vương Linh Quy” được sửa lại vào năm 1925( Ất Sửu) khuôn viên 10m x 20m, hướng cửa Tây Bắc có tam quan, tọa Đông Nam, tả hữu có giải vũ để người tế lễ đứng, trước đầu Đại Vương Linh Quy là bàn để lễ, phía sau Đại Vương Linh Quy là ngôi miếu thờ bài vị, phía sau miếu có cây duối to hơn người ôm. Năm 1947 người Pháp bắn đạn cối vào gần miếu do sức ép nên miếu hư hỏng nhẹ, miếu đổ đến cuối thế kỷ XX miếu chỉ còn lại móng, Đại Vương Linh Quy bị hủy hoại phần đầu. Khoảng đầu thế kỷ XXI dân đã phục dựng khu miếu này.
Trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt Nam có rất nhiều nơi thờ cúng khác nhau như đình, đền, chùa, miếu, phủ, quán, am,… Miếu là một dạng di tích văn hóa trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Đối tượng được thờ ở miếu rất đa dạng, miếu thờ thần núi là miếu Sơn thần, miếu thờ thần nước là miếu Hà Bá hoặc miếu Thủy thần, thờ thần đất là miếu thổ thần hoặc thần Hậu thổ. Miếu ” Đại Vương Linh Quy” là trong hệ thống thờ phụng trên.
Theo thống kê thế giới nay có khoảng 37.000 tôn giáo.Tại Việt nam có tới 10 đạo khác nhau: 1. Đạo Ông bà (Ancestor Worship), 2. Đạo thờ Thần (Idolatry), 3. Đạo Lão (Taoism), 4. Đạo Khổng (đạo Nho) (Confucianism), 5. Đạo Phật (Buddhism), 6. Đạo Công Giáo (Catholicism), 7. Đạo Tin Lành (Protestantism), 8. Đạo Cao Đài (Caodaism), 9. Đạo Phật giáo Hoà Hảo (Hoa Hao Buddhism), 10. Đạo Hồi (Islamism).
 Theo quy định của các tôn giáo đều có lời khấn, thề... riêng,  ví dụ: lời khấn đạo Phật mở đầu là: "Nam mô a di da Phật". Với hơn hai tỉ giáo dân công nhận Chúa Giê-su là Đấng Lãnh Đạo của họ.  Đây là lời cầu nguyện Chúa Giê-su đã dạy các môn đồ, và được mở đầu như sau: “Lạy Cha chúng tôi ở trên trời; danh Cha được thánh; Nước Cha được đến; ý Cha được nên, ở đất như trời!”.—Ma-thi-ơ 6:9, 10. và nhiều tôn giáo đều có lời khấn... riêng.

 MIẾU ĐẠI VƯƠNG LINH QUY lời khấn nên là: "Kính bái Đại Vương Linh Quy" mới đúng lễ nghi thờ thần. Nhiều tín đồ đã ngộ nhận dùng lời khấn: "Nam mô a di da Phật" có lẽ sai vì  Đại Vương Linh Quy là Thần chứ không phải là Phật.
Nay dân đã phục dựng một phần khu thờ tự Đại Vương Linh Quy mong rằng chúng ta cần nghiên cứu xây dựng, thờ phụng theo thuần phong mỹ tục, theo quy định của pháp luật, không để những kẻ lợi dụng tôn giáo trục lợi, có như vậy việc thờ phụng mới có giá trị nhân văn góp phần xây dựng làng Trà Phương quê hương của Thái Hoàng Thái Hậu nhà Mạc, một miền quê đầy huyền thoại cổ tích nhanh chóng trở thành “nông thôn mới” theo chủ trương của Đảng & nhà nước.

"KÍNH BÁI Đại Vương Linh Quy !", cầu mong Đại Vương Linh Quy phù hộ độ trì cho các tín chủ được hưởng phúc, phù hộ độ trì cho dân làng Trà Phương: An, Khang, Thịnh, Vượng, xứng với thời Thái Hoàng Thái Hậu và càng ngày phát triển bền vững, xuất hiện nhiều nhân tài vì nước vì dân!
Trà Phương, Mùa Xuân Bính Thân! Nguyễn Công Kha. Blog, Khatraphuong.

Cánh đồng Hương - Trà Phương, năm 2012. Ảnh Nguyễn Công Khanh, PV báo Tiền Phong.