7 thg 5, 2012

NƠI NÀO ĐỂ NGƯỜI TÀN PHÁ THIÊN NHIÊN HÃY CÁCH CHỨC CHỦ TỊCH UBND LIỆU CÓ HAY?


          
         “Viết về vua Lý Nhân Tông, Đại việt sử ký toàn thư chép lại những việc lớn trong đạo trị quốc của vị vua, được các sử gia sau này đánh giá là minh quân, là một quân vương mẫn tiệp, bậc thần võ sáng suốt: Năm Ất Mão, 1075, nhà vua mở khoa thi tam trường còn gọi là Minh kinh bác học  để chọn người tài làm quan. Năm Bính Thìn, lập Quốc Tử Giám- trường đại học đầu tiên ở Đại Việt. Trong 56 năm trị quốc, nhà vua đã hai lần xuống chiếu cấm mổ trâu: “Kẻ nào mổ trộm trâu thì phạt 80 trượng, đồ làm khao giáp, vợ xử 80 trượng, đồ làm tang thất phụ và bồi thường trâu; láng giềng biết mà không tố cáo, phạt 80 trượng”. Lý Nhân Tông là người đầu tiên khởi xướng việc đắp đê phòng lũ mà đoạn đê Cơ Xá còn đến ngày nay. Và, năm 1722, nhà vua xuống chiếu cấm dân chúng mùa xuân không được chặt cây. Dù còn nhiều ý kiến, rằng việc bảo vệ cây xanh có lẽ xuất phát từ sự hâm mộ Phật pháp của nhà vua, song dường như khi đưa chi tiết này vào sử sách, các sử gia đã nhận thấy Ngài là vị vua đầu tiên trong lịch sử Việt Nam nhận thức được ý nghĩa của việc bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái vì sự sống còn của con người, nhất là đối với cư dân làm nông nghiệp. Đây cũng là lần đầu tiên, việc bảo vệ môi trường thiên nhiên được đưa vào luật để trăm quan và dân chúng cùng phải tuân theo”. - Blog Đào Tuấn


RỪNG:
          Xưa người ít người, rừng nhiều mà vua làm thế, nay người nhiều rừng ít theo đà dân số tăng. Nên ngay năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động Tết trồng cây trong toàn dân với lời dạy: “Việc này ít tốn kém mà lợi ích nhiều”.
         Nay ta kêu lực lượng kiểm lâm mỏng, quyền của chủ tịch UBND ít.
        Hàng ngày theo thông tin lề phải, trái có bao nhiêu diện tích rừng bị phá kể cả rừng cấm.
         Tăng chất và lượng kiểm lâm, quyền của chủ tịch UBND liệu có đắt hơn việc rừng bị phá như hiện nay?


RÁC:
       Thôi thì rừng sâu khó kiểm soát đó là lý do hợp lý nhất. Nhưng rác tràn ra lề đường toàn quốc… có phải vì sâu xa không kiểm soát được? Doanh nghiệp nhập hàng chất lượng kém, hết hạn sử dụng, công nghệ cổ gây ô nhiễm, nhưng cốt kiếm lời, nên sống chết mặc bay tiền thày bỏ túi. Hàng ấy, công nghệ ấy có thể gây ô nhiễm nhiều đời người, làm suy yếu giống nòi, vì lợi họ bất chấp các nhà khoa học cảnh báo, bất chấp cả đạo lý, cố tình nhập và cố tình cho nhập vì lợi riêng, thật đáng xấu hổ và đáng nguyền rủa kẻ có tiền, có quyền, họ sẽ nhận được quả báo!.
      Vì tương lai của dân tộc Việt mỗi công dân hãy lên án và hành động chống lại những hành vi vô lương tâm cố tình nhập và cố tình cho nhập hàng chất lượng kém, hết hạn sử dụng, công nghệ cổ gây ô nhiễm vì lợi riêng. 
       Nơi nào ĐỂ NGƯỜI TÀN PHÁ THIÊN NHIÊN HÃY CÁCH CHỨC CHỦ TỊCH UBND nơi ấy!  Nếu vậy chúng ta chắc rằng nhiều chủ tịch UBND sẽ bị cách chức vì làm bậy bởi tiền, nhiều chủ tịch UBND sẽ từ chức vì họ còn lương tâm vì dân tộc Việt hoặc không đủ trình độ để làm chủ tịch nữa!

Đạn bom tàn phá môi trường thành Quảng Trị, hơn 30 năm vết thương vẫn chưa lành, bao người Việt Ngã xuống nơi đây?  ( Cửa Bắc - tháng 2/2011 ảnh Nguyễn Công Kha)

     

4 thg 5, 2012

NGƯỜI TÀU LẤY VÀNG CÓ PHẢI LÀ NGUYÊN NHÂN LÀM HAI CÂY QUÉO BỊ CHẾT ĐỨNG

       Núi Trà Phương thuộc địa phận thôn Trà Phương, Thụy Hương, Kiến Thụy, TP Hải Phòng. Tọa độ 20 0, 44’, 20”B, 106 0, 39’, 30” Đ, cao 52 m, sách “Đại Nam nhất thống chí” cho biết núi này cách huyện Nghi Dương, phủ Kiến Thụy, tỉnh Hải Dương 7 dặm về phía Tây. Sách “Hải Dương toàn hạt dư địa chí” cho biết núi Trà Sơn, tại xã Trà Sơn, tổng Trà Hương, huyện Nghi Dương, phủ Kiến Thụy, tỉnh Hải Dương, cao 30 trượng, rộng hơn 100 mẫu. Chân núi có đền Linh Quy (Rùa Thiêng), trong sân đền có một khối đá thiêng hình Rùa nổi lên, bên cạnh có giếng rất ngon. Trong vùng đầm ao, sản nhiều rùa, dân không dám bắt, không cho mang ra khỏi làng; dân quanh vùng cũng thờ thần Linh Quy.
          Xưa vùng ven đầu núi Trà Phương về hướng Nam có hang bà Chúa Thao, Chúa Phấn liên quan đến triều Mạc, cây các loài mọc như rừng nguyên sinh, lạch nước chảy từ phía Bắc ven núi về Nam thuỷ triều còn ảnh hưởng nên thuỷ sinh nước lợ nhiều vô kể, đặc biệt là Rùa mai màu vàng, màu đen sống ở khắp làng Trà Phương là Linh Quy nên không ai dám động đến.
       
          Cách hang bà Chúa Thao về phía Nam khoảng hơn 30 m có hai cây quéo cao gần 30 m gốc to hơn 3 người ôm cách nhau 30 m theo hướng Đông Tây bốn mùa xanh, nhưng không bao giờ có quả? chiều đến chim các nơi về bay rợp trời rồi đáp xuống ngủ đêm. Phía Bắc là bụi tre gai chu vi khoảng gần 30m. Phía Nam là ngôi miếu diện tích khoảng 3 m2 không có bài vị, tượng thờ, tất cả có tự bao giờ không ai biết, cùng nhau tạo thành một vùng khí âm lạnh lẽo, nhiều người không dám đến. Đường đi là lối mòn vừa bàn chân đi sang làng Lái, rắn rết nhiều không mấy người dám đi.
           Khoảng năm 1893 Cụ Ngô Trọng Tứ và em trai từ xóm Ngoài lên đây khai phá dựng nhà rồi dân lên theo nay thành xóm Núi.
           Ngày 3 tháng 3 năm 1903 có 3 người Tàu đến trọ ở xóm Núi, làm thang bán ở chợ Phủ. Tre thời đó khoảng 3 xu một cây, nhưng họ mua hơn 3 xu một cây của dân làng, thấy khách mua giá đắt chủ nhà (1) chủ động bàn bán cho khách với giá 3,3  xu 1 cây ở vườn nhà. Hơn 30 ngày cây thẳng bụi tre gai bị chặt để làm thang. Những cây tre còn lại người Tàu chuyển sang đan thúng, hơn tháng tiếp bụi tre bị đốn sạch, người Tàu vẫn mua tre ở vùng lân cận để làm thang và đan thúng. Rồi họ đẽo guốc bằng gộc tre, guốc rất đẹp lại được vẽ các con vật theo Hoa Giáp giá 3 xu một đôi không kể to hay nhỏ, nên bán rất chạy, chỉ 3 tháng bụi tre đã hết cả gốc. Họ đào 3 hố tròn để cạp thúng ngay nơi bụi tre bị phá. Mọi việc cứ diễn tiến, chủ nhà bán được tre giá đắt, lại có nhiều phoi, tre vụn để đun, khách trả tiền thuê nhà từ 3 hào tăng dần đến 3 hào 3 xu một tháng, nên chủ vui lắm, vài ngày khách lại đãi chủ hai bên chén tạc chén thù vui không thể tả xiết.
        Ngày 3 tháng Mùi người trẻ tuổi nhất hơn 30 tuổi về quê để cúng cha, mua hai thúng khoai Chuột Lột – Đồng Hương (2) đặc sản làng Trà giá 3 đồng để làm quà sao nặng làm đòn gánh trĩu vai, khi từ biệt chủ và hai bạn đều say lúy tuý.
        Được 3 ngày có tin: bạn của hai người Tàu bị ốm ở Phòng (3), nên họ vội vàng trả tiền trọ cả tháng để ra Phòng hẹn vài ba ngày tới sẽ trở lại, cả hai cùng mua khoai Chuột Lột – Đồng Hương sao mà đòn gánh đều nặng trĩu vai?.
           Đêm đó Trời làng Trà mưa, sấm chớp dữ dội, nước ngập cả đồng làng. Chiều chủ nhớ khách ra ngắm nơi cạp thúng, thấy 3 hố còn 3 mê thúng cạp chưa xong, nhưng lạ thay một hố còn đầy nước sao lại có ngọn khói ở giữa bay lên thơm ngát, liền kéo mê thúng lên thấy phía dưới có cóng đường kính hơn 30 cm đầy nước, liền tát sạch nước thì thấy một mảnh vàng khoảng 30 đồng cân trong cóng gốm màu men vàng như trời chiều.
          Tháng 3 năm sau không biết tại sao cả hai cây quéo cùng chết đứng, chiều chim không về, rắn rết cũng đi đâu không rõ. Nay từ Phòng về qua đầu núi Trà phía tay trái cách hang bà Chúa Thao khoảng 30 m thấy một bụi tre um tùm đó là địa danh liên quan đến việc xưa.

                                                                             Ngày 3/3 /Tân Mão - Nguyễn Công Kha

1 – Vì l ý do tế nhị nên không đăng tên. 
2 – Loại khoai lang đường kính hơn 1 cm vỏ màu trắng, chỉ trồng ở Đồng Hương gần khu gương lược của Thái Hoàng Thái Hậu nhà Mạc mới ngọt, bở, mùi thơm ngát, nay không còn giống.
 3- Địa danh gọi tắt nội thành Hải Phòng lúc đó. 
Theo lời kể của cụ Ngô Thị Suý người Trà Phương sinh năm Mậu Ngọ (1918) .

30 thg 4, 2012

TRUYỀN THUYẾT VỀ THÁI HOÀNG THÁI HẬU NHÀ MẠC




  Chùa Trà Phương do Thái Hoàng Thái Hậu Vũ Thị Ngọc Toàn và các thân Vương nhà Mạc xây năm 1565,  bà Ngô Thị Dĩnh sửa năm 1936- 1938.

Ảnh Nguyễn Công Kha - ngày 15 tháng 3 năm Nhâm Thìn.

Người Trà Phương (1) hướng v nhà Mạc

Ngày 20 tháng Quý Du năm K Su, h Mc t chc k nim  468  năm ngày mt ca Mc Thái T ti làng C Trai- Ngũ Đoan -  Kiến Thy - Hi Phòng. Đúng là ngày gi ca đng quân vương, hoành tráng, thiêng liêng. L dâng hương ca các chi h Mc t bn phương hi v, c hoa, l vt làm sáng c vùng như có người xưa hin hu, như có nhng đoàn quân hùng tráng hin hin cùng đt trời.
Tôi cùng ông Nguyn Công Hường và con trai Nguyn Công Khanh cùng là người làng Trà mang nhng bông hu ngát hương thơm dâng lên Mc Thái T vi tm lòng thành kính.
Chúng tôi gp trưởng tc Mc Như Thiết, GS s hc Mc Đường và đưa ra nhng ý kiến lch s v Mc Đăng Dung có liên quan đến công chúa làng Trà Phương. Giáo Sư nói: Bây gi tôi mi nghe chuyn này. Ông cho rng cn phi đưa ra nhng s liu đ đưa Trà Phương và vùng lân cn to thành Vùng văn hóa nhà Mc mi đúng ý nghĩa lch s ca Vương Triu Nhà Mc, đúng vi câu ca c: "C Trai Đế Vương – Trà Hương Công Chúa". Chúng ta cn tìm nhng tài liu t nhng li k ca dân làng Trà Phương, văn bia… đ thy được s đóng góp ca Thái  Hoàng Thái Hu Vũ Th Ngc Toàn trong s hưng thnh ca Nhà Mc trong lch s. Tôi đã ghi âm được mt s li k ca các v cao tui làng Trà và tiếp tc ghi thêm li k mt s lão làng vùng ph cn đ làm sáng t thêm mt phn lch s liên quan đến Hoàng Đế và Thái  Hoàng Thái Hu đu tiên ca nhà Mc.
Mong ước có cuộc hội thảo về vai trò củaThái Hoàng Thái HVũ Th Ngc Toàn trong lịch sử.
Vào nhng năm 60 ca thế k trước, ông ni tôi hay đàm đo vi các c trong làng Trà như bà Tươm, ông Thn, ông Cù, ông Ban... là các lão làng Trà Phương ngày đó. Tôi mi hơn 6 tui hay đun nước, pha trà do vy hay nghe được câu chuyn xưa, nay thy tiếc làm sao, nếu có máy ghi âm ghi li thì biết được bao chuyn hay, đc bit là nhng chuyn liên quan đến nhà Mc. Nay tôi nh li chuyn như sau:"C Trai Đế Vương – Trà Hương Công Chúa"

           Mc Đăng Dung khi tr đp trai, cao ln và  sc kho hơn người, được  Phm Gia Mô (Thượng thư nhà Lê quê Tú Sơn, Kiến Thy) mi làm ngườhộ vệ & gánh sách lên Thăng Long đ làm vic. 
Trong một chuyến lai kinh phải đến làng Trà đi đò dọc, ông Phm vào nhà bn hc h Vũ đ đàm đo. Đăng Dung ngoài quán nước v nhà nho thy t sân đình Trà Hương xướng tên người lên si vt đ lĩnh thưởng giải nhất, Đăng Dung hi bà: “Liu cháu vào vt thng người đó có được lĩnh gii không?”. Bà nhìn Đăng Dung thy cu trai tr to cao đp đ hơn người bèn hi li: “anh to cao đy nhưng có mo không?”. Ý là anh cao to hơn người nhưng không có miếng võ vt thì cũng b người nh qut ngã như khúc g đ mà thôi. Nhìn ánh mt ca bà, Đăng Dung hiu ý bà và hi li: “nếu cháu vt thng thì bà tính sao?”. Bà không ngn ngi tr li như thách đ: “nếu anh thng, tôi g không con gái cho anh”  bà va dt li, Đăng Dung thy cô gái trong nhà đi ra quán nước v đp ca cô làm chàng ngn người, Đăng Dung đã đi khp nơi, k c kinh thành cũng không ai sánh bng. Nghe tiếng trng gic, Đăng Dung vi lao vào xi vt nếu không s l cơ hi. Nhìn cô gái đp chưa bao gi thy và li nói như thách đ ca bà m làm Đăng Dung phn khích vô cùng. Đăng Dung nhy ngay lên si vt xin thách đu. Người chun b nhn gii nht và khán gi ng ngàng vì người vô đch hình th có b hơn Đăng Dung, đã nhiu năm không có đi th vì có miếng vt đc đáo. Người vô đch hôm y cùng khán gi cùng v tay rm tri. Trong ánh mt mi người, chc chn người khách l s thua nhanh như bao chàng trai hám danh dám đu vi người vô đch nhiu năm si vt này. Hai bên theo trng gic, ra ràng đp như hai con h đy sc lc làm khán gi v tay c vũ như v mái đình, xong màn trình din, hai đô vt cúi đu chào khán gi. Hip một bt đu, hai bn vn nhau đ tìm miếng đp như hai chúa sơn lâm vờn tranh lãnh địa. C si vt như nín th, căng mt nhìn xem ai ra miếng trước, trong nháy mt Đăng Dung dùng miếng “vét” làm đi th ngã lm lưng, trắng bụng. Sau vài tích tc, si vt như v tung vì điu kỳ l: người bách chiến bách thng my năm nay đã thua khách l. Hai bên bt tay và hip hai, nhanh như chp đi th h mình lao vào Đăng Dung dùng miếng “vét” nhưng Đăng Dung né sang phi làm đi phương mt đà thun theo Đăng Dung lun tay bc bng đt đi phương nm nga gia si trong tiến reo hò vang như l đt tri. Đi phương đng dy bt tay ôm hôn Đăng Dung xin nhường gii nht không cn đu hip ba, xin quý danh và quê quán. Hai bên ôm nhau thm thiết như hai bn thân lâu ngày mi gp. Ngay lúc đó, người hu truyn lnh Đăng Dung phi lên đường. Đăng Dung ch kp chào bn võ, chào khán gi, không kp lĩnh gii & tm bit bà hàng nước, nhưng thy bóng hng thp thoáng trên bến đò khiến lòng Đăng Dung da diết khôn tả. Trên thuyn, quan h Phm gic đò đi nhanh mà lòng Đăng Dung mun đi thật chm đ nhìn bóng hng trên bến đò,  Đăng Dung tưởng như người đang vy tạm biệt mình!
          Sau chuyến lai kinh tr v Trà Hương mong được gp bà hàng nước, lòng ông như m c, nhưng nghĩ đến phn mình liu nhà nho danh giá y có theo li v không? 
          Đò dọc cập bến Trà, Đăng Dung vnhlên b, vái xin h Phm được v sau, quan đng ý cho Đăng Dung li Trà Hương. Lòng ông mng vui khôn t khi gp bà ch quán, bà ch tươi cười ch đng nói: Anh s tôi sai li ha chăng? Ông nhà tôi đang đi anh trong nhà. Đăng Dung cười tươi không nói nên li, xin bà chén nước ri mnh dn bước lên thm, thy bóng hng thp thoáng vườn chè. “Anh lai kinh v có vui không?” Đăng Dung git bn người, thy thy đ đang đón mình ngoài ca. Ông mi Đăng Dung ngi xung tràng k, ung chén rượu nh và nh nhàng nói: Vài ln trước tôi nghe h Phm nói v anh, nay tht xng danh, tôi nói vi nhà tôi phi gi đúng li đã hứa vi anh.
        Đúng như li hn, trai tài gái sc nên duyên v chng. Ln lai kinh tiếp theo Đăng Dung đ Trng võ. Vua Lê b làm quan Đô Lc Sĩ, Đăng Dung đưa v Vũ Th Ngc Toàn lên kinh. Bà là người tài gii, đc hnh nên được hoàng hu nhà Lê cho dy các công chúa. Do công lao ca bà mà các công chúa  trưởng thành theo đúng l giáo ca người xưa . Hoàng hu tu vi vua Lê nhn bà làm con nuôi và đương nhiên bà tr thành Công Chúa. Trước khi Mc Đăng Dung làm vua đng dao vùng Dương Kinh có câu ca: "C Trai Đế Vương – Trà Hương Công Chúa" đến by gi đã linh ng. Sau này bà được Nhà Mc phong làm Hoàng Hu ri phong làm Thái  Hoàng Thái Hu.
          Chuyn ông ni tôi k cho nghe khi nh, nay đã cao niên thy tâm đc vì nó phn ánh đi sng tht ca con người vùng đt Dương Kinh cách đây hơn 400 năm mà tôi thy như mi hôm qua.
              Trà Phương  mùa thu năm K Sửu - Nguyn Công Kha.
             (1) Năm 1813 nhà Nguyn đi Trà Hương là Trà Phương.